CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Đặc điểm hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về hoạt động cho vay Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa.
Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng đƣợc phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng đƣợc thực hiện dƣới hình thức vay mƣợn bằng hiện vật - hàng hóa.
Xuất hiện sở hữu tƣ nhân tƣ liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: ngƣời giàu, ngƣời nghèo, ngƣời nắm quyền lực, ngƣời không có gì.Khi ngƣời nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay, mà những ngƣời giàu thì câu kết với nhau để ấn định lãi suất cao, chính vì thế, tín dụng nặng lãi ra đời. Trong giai đoạn tín dụng nặng lãi, tín dụng có lãi suất cao nhất là 40-50%, do việc sử dụng tín dụng nặng lãi không phục vụ cho việc sản xuất mà chỉ phục vụ cho mục đích tín dụng nên nền kinh tế bị kìm hãm động lực phát triển. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mƣợn bằng tiền tệ. Cho vay, còn gọi là tín dụng, phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là ngƣời cho vay và một bên là ngƣời đi vay.
Quan hệ giữa hai bên ràng e 7 buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả, cơ chế hoàn trả gốc lãi… Cho vay là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng quyết định cấp tín dụng cho khách hàng và cũng là nghiệp vụ mang về thu nhập chính cho ngân hàng. Đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra do vậy các NHTM luôn phải quan tâm tới rủi ro trong cho vay nhằm hạn chế tối đa RRTD có thể xảy ra. Nguyên tắc cho vay Căn cứ theo Điều 4 Nguyên tắc cho vay, vay vốn của Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 đƣa ra 02 nguyên tắc quan trọng trong việc cho vay của NHTM nhƣ sau: Nguyên tắc thứ nhất: Sử dụng vốn vay đúng mục đích. Tất cả các khoản tín dụng phải đƣợc sử dụng đúng mục đích vay thể hiện trong hồ sơ vay vốn.
Theo nguyên tắc này ngƣời cho vay (NHTM) có quyền kiểm tra việc sử dụng vốn vay đối với ngƣời vay. Ngƣời vay phải xây dựng dự án, phƣơng án xin vay vốn và phải có trách nhiệm thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký với ngân hàng. Mục đích của việc đề ra nguyên tắc này là đảm bảo tính hoàn trả của đồng vốn, đồng thời quản lý vốn đầu tƣ theo đúng định hƣớng và cơ cấu đầu tƣ. Từ đó hạn chế các rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng.
Nguyên tắc thứ hai: Hoàn trả gốc lãi tiền vay đúng thời hạn Khoản tín dụng phải đƣợc hoàn trả đúng vào thời điểm đã đƣợc hai bên xác định cụ thể và đƣợc ghi nhận trong thỏa thuận vay vốn giữa KH và NH. Vốn vay phải đƣợc hoàn trả bao gồm cả gốc và lãi cho ngân hàng sau thời gian vay vốn. Thời gian vay vốn là khoảng thời gian kể từ khi ngƣời vay lĩnh tiền vay lần đầu tiên cho đến khi trả hết nợ gốc và tiền lãi. Nguyên tắc hoàn trả thể hiện ở hai mặt: Mặt thứ nhất là số lƣợng hoàn trả, số lƣợng hoàn trả sẽ bằng tổng số tiền gốc của khoản vay và số lãi phát sinh trong quá trình vay e 8 vốn.
Mặt thứ hai là thời gian hoàn trả, thời gian hoàn trả phải thực hiện theo thoả thuận giữ hai bên đƣợc ghi trong hợp đồng vay tiền. Phân loại cho vay Có rất nhiều cách để phân loại cho vay, các NHTM thƣờng phân loại theo những tiêu thức sau: 1. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Cho vay sản xuất kinh doanh Cho vay sản xuất kinh doanh là loại cho vay mà tiền vay tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình bỏ vốn mua các yếu tố sản xuất sau đó thực hiện quá trình lao động để kết hợp các yếu tố sản xuất thành sản phẩm và tiêu thụ, dòng tiền tạo ra dùng để trả nợ và sau đó tiếp tục quá trình tái sản xuất.
Đối với cho vay sản xuất kinh doanh có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. Cho vay trong lĩnh vực thƣơng mại hàng hóa thì không tạo ra thêm sản phẩm nhƣng góp phần tạo ra giá trị gia tăng của hàng hóa. Thông thƣờng đối với lĩnh vực thƣơng mại hàng hoá các ngân hàng thƣờng cho vay ngắn hạn. Cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là loại cho vay mà mục đích là để sử dụng vào tiêu dùng nhằm giúp ngƣời tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa dịch vụ trƣớc khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho ngƣời vay đƣợc hƣởng mức sống cao hơn.
Thông thƣờng quy mô của những khoản vay này nhỏ, rủi ro cao vì phụ thuộc phần lớn vào thu nhập và ý thức trả nợ của khách hàng. Khác với cho vay sản xuất kinh doanh, đặc điểm cho vay tiêu dùng không tạo ra sản phẩm hàng hoá, cho vậy vay tiêu dùng phải có nguồn thu nợ độc lập với dự án, nhƣ nguồn tiền lƣơng, nguồn thu từ bán các tài sản khác của ngƣời vay. Căn cứ vào thời gian cho vay Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với NH vì thời gian e 9 liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng nói chung cũng nhƣ khả năng hoàn trả của khách hàng: Thời gian cho vay càng dài thì rủi ro càng lớn nên lãi suất càng cao. Hơn nữa, việc phân chia theo thời gian còn giúp NH đảm bảo sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động đƣợc và số tiền cho vay.
Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm. Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm Trong đó cho vay ngắn hạn thƣờng đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động cho các DN và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân, cho vay trung hạn chủ yếu đƣợc mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ, vừa và thời gian thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản nhƣ xây dựng nhà ở, sân bay, cầu đƣờng, các thiết bị, phƣơng tiện vận tải có quy mô lớn. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay Cho vay có bảo đảm bằng tài sản Là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm nhƣ cầm cố, thế chấp, hoặc phải có bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.
Các ngân hàng thƣờng áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay để bảo đảm nguyên tắc hoàn trả gốc lãi tiền vay đúng thời hạn. Đảm bảo tiền vay là việc bằng cơ sở pháp lý tạo thêm cho ngân hàng một nguồn thu thứ hai độc lập với nguồn thu nhập từ HĐKD không đảm bảo trả nợ. Hiện nay, hầu hết các khoản cho vay đều phải có TSBĐ. Khi cho vay bảo đảm bằng tài sản, cùng với hợp đồng vay tiền, ngân e 10 hàng và KH ký thêm hợp đồng bảo đảm bằng tài sản.
Nội dung chính của hợp đồng bảo đảm bằng tài sản này là việc nếu KH không trả đƣợc nợ, ngân hàng sẽ phát mãi tài sản của KH hoặc của ngƣời thứ ba để lấy tiền trả nợ ngân hàng. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản Cho vay không có TSBĐ là việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân KH đi vay mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3. Cho vay không có TSBĐ thông thƣờng dành cho KH có uy tín cao, KH truyền thống, có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh thƣờng xuyên có lãi… Tuy nhiên, đây là hình thức cho vay mang nhiều rủi ro đối với các NH, do vậy cần thẩm định kỹ KH trƣớc khi quyết định cho vay. Loại cho vay không có đảm bảo bằng tài sản thƣờng chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng dƣ nợ cho vay của các NHTM.
Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn vay Cho vay vốn cố định Cho vay vốn cố định là loại cho vay mà vốn vay sử dụng vào các mục đích mua sắm, mở rộng, duy tu tài sản cố định. Tài sản cố định là loại tài sản tham gia vào nhiều quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị của tài sản cố định hao mòn dần trong quá trình sản xuất kinh doanh và chuyển dần vào giá trị sản phẩm. Do đó vốn cố định có mặt trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và đƣợc luân chuyển theo từng phần, từng giai đoạn vào trong các chu kỳ nhất định của hoạt động sản suất kinh doanh. Sau khi tham gia vào rất nhiều các chu kỳ sản xuất kinh doanh thì vốn cố định mới có thể hoàn thành và kết thúc một vòng luân chuyển của mình.
Dẫn đến cho vay vốn cố định thƣờng đƣợc hoàn vốn sau khoảng thời gian cho vay trung hạn hoặc dài hạn. e 11 Cho vay vốn lƣu động Khác với tài sản cố định, tài sản lƣu động là những tài sản chỉ tham gia vào một quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị của tài sản lƣu động chuyển một lần vào giá trị sản phẩm. Vốn lƣu động thể hiện dƣới dạng tài sản lƣu động, cho vay vốn lƣu động là loại cho vay mà mục đích để đầu tƣ vào tài sản lƣu động.