CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 1. Lý luận về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng 1. Khái niệm công chứng, tổ chức hành nghề công chứng 1. Khái niệm công chứng Công chứng là nghề xuất hiện cách đây hàng ngàn năm ở Hy Lạp, Ai Cập, đặc biệt là ở La Mã với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng (dịch vụ văn tự).
Khởi đầu công chứng là một nghề tự do trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiết lập các văn tự, khế ước. Thuật ngữ Notariat (tiếng Pháp, Đức,.) hay Notary (tiếng Anh), đều có gốc Latinh là Notarius có nghĩa là ghi chép. "Notarius" trong Luật Anh Cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng. Trong Luật La Mã, "Notarius" là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của Tòa án hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu.
Theo từ điển Luật học của Mỹ, Notarial (công chứng) là hoạt động của công chứng viên. Công chứng theo Hệ thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon là một nghề tự do, công chứng viên hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình nhưng đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi công chứng viên phải có trình độ chuyên môn (luật) và kỹ năng nghiệp vụ được nhà nước công nhận để có thể đảm bảo tính xác thực cho các hợp đồng vốn rất phức tạp, đa dạng, công chứng viên do nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo các điều kiện, tiêu chuẩn do luật định và hoạt động theo chế độ chứng chỉ hành nghề [25, tr. Điểm khác biệt giữa trường phái công chứng Latinh và trường phái công chứng Anglo saxon là trong trường phái công chứng Latinh thì các hợp đồng, giao dịch hợp pháp mới được công chứng viên xác nhận, những hợp đồng, giao dịch bất hợp pháp thì bị từ chối công chứng. Đặc điểm này quy định chức năng phòng ngừa các tranh chấp 11 trong hợp đồng, giao dịch của công chứng hệ Latinh [6, tr.
Công chứng theo hệ thống công chứng Collectiviste chưa được coi là một nghề (công chứng viên là công chức nhà nước, kiêm nhiệm cả việc chứng thực (thị thực hành chính)); việc công chứng được giao cho cả các chủ thể không phải là công chứng viên đảm nhiệm; công chứng viên không có chứng chỉ hành nghề, không phải chịu trách nhiệm dân sự trước khách hàng, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước về những sai phạm trong hoạt động của mình. Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste đã có sự đổi mới trong quan niệm về công chứng ở hầu hết các nước đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo hướng phù hợp với quan niệm của hệ thống công chứng La tinh và hệ thống Anglo Saxon và đang từng bước tiến hành cải cách công chứng từ mô hình công chứng nhà nước sang mô hình công chứng tự do [25, tr. Ở Việt Nam, công chứng thời Pháp thuộc được gọi là "Chưởng khế", là hoạt động thị thực của các cấp chính quyền, chỉ có thể do Nhà nước thực hiện. Đến năm 1987 thì thuật ngữ công chứng chính thức được sử dụng với tên gọi là công chứng Nhà nước, được xác định là một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện (Thông tư số 574/QLTPK của Bộ Tư pháp).
Đến năm 1991, thuật ngữ công chứng nhà nước được xác định là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ (Nghị định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng). Đến năm 1996, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP thay thế Nghị định số 45/HĐBT thì khái niệm công chứng cũng được xác định như khái niệm công chứng nhà nước được quy định tại Nghị định số 45/HĐBT nhưng bổ sung thêm quy định loại trừ giá trị chứng cứ của hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng 12 nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền chứng thực khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Tuy nhiên, chỉ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP thay thế Nghị định số 31/CP thì khái niệm công chứng mới được xác định khoa học hơn, tiệm cận hơn với quan niệm chung của thế giới về công chứng và bước đầu có sự phân biệt giữa công chứng và chứng thực.
Theo đó, công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP. Tại khái niệm này, lần đầu tiên thuật ngữ pháp lý "công chứng" được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ pháp lý "công chứng nhà nước" được sử dụng trong các văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực công chứng trước đó; chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng, không phải công chứng viên. Tuy nhiên, quy định về chủ thể của hoạt động công chứng theo Nghị định số 75/2000/NĐ-CP lại không phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền công chứng của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990 và chính Nghị định số 75/2000/NĐ-CP (Điều 25). Ngày 29/11/2006, khi Quốc hội thông qua Luật Công chứng số 82/2006/QH11 thì công chứng được xác định là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Theo khái niệm này, công chứng là hành vi của công chứng viên (không còn là hành vi của Phòng Công chứng), điều này phân biệt với chứng thực là hành vi của người đại diện của cơ quan hành chính nhà nước; đối tượng của hoạt động công chứng là các hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại; văn bản công chứng có giá trị chứng cứ do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đã được công chứng viên xác nhận; các hợp đồng, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận sẽ được coi là hợp pháp (có tính hợp pháp) [6, tr. 13 Tuy nhiên, khi Quốc Hội thông qua Luật Công chứng số 53/2014/QH13 thì khái niệm công chứng một lần nữa lại tiếp tục được thay đổi. Theo đó, công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Với định nghĩa này, ngoài việc xác định cụ thể hình thức hoạt động hành nghề của công chứng viên là tại các tổ chức hành nghề công chứng, Luật Công chứng 2014 còn quy định thêm thẩm quyền của công chứng viên đối với việc chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản; công chứng viên chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch mà mình công chứng trước người yêu cầu công chứng, người dịch sẽ chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản dịch trước công chứng viên [8, tr.
Tổ chức hành nghề công chứng Quy định chủ thể công chứng là tổ chức hành nghề công chứng chỉ xuất hiện trong pháp luật công chứng của các nước xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu và Liên Xô cũ. Ở Trung Quốc, mặc dù xây dựng mô hình tổ chức công chứng hành nghề tự do nhưng vẫn quy định phòng công chứng là chủ thể của hoạt động bổ trợ tư pháp [60, tr. Ở Việt Nam, thuật ngữ tổ chức hành nghề công chứng chính thức được sử dụng kể từ khi có Luật Công chứng 2006. Theo đó, tổ chức hành nghề công chứng gồm phòng công chứng và văn phòng công chứng.
Điểm giống nhau giữa Phòng Công chứng và Văn phòng công chứng là người đứng đầu của 02 đơn vị này đều bắt buộc phải là công chứng viên và việc thành lập Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng đều do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập. Tuy nhiên, trưởng Phòng Công chứng phải do UBND cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, còn trưởng Văn phòng công chứng thì do công chứng viên tự xác định. Loại hình hoạt động của Phòng Công chứng là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp, văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt 14 động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh tùy thuộc vào số lượng công chứng viên đăng ký thành lập văn phòng công chứng. Đến Luật Công chứng 2014, tổ chức hành nghề công chứng tiếp tục được xác định bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng và các quy định về thẩm quyền thành lập, người đứng đầu Phòng Công chứng và Văn phòng Công chứng đều được Luật Công chứng 2014 kế thừa của Luật Công chứng 2006.
Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất giữa Luật Công chứng 2014 so với Luật Công chứng 2006 liên quan đến tổ chức hành nghề công chứng là Văn phòng công chứng chỉ được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Công chứng 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn. Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên.