mở đầu nói về mộng, bài thơ cuối cùng cũng. Bài thơ đầu là nguồn gốc tạo ra tên sách: “Song trưa cài gió bắt/Buằn tựa gối thiu thiwGide mộng Ngân Sơn tỉnh/Sương lam đọng nắng chiều "(Mộng ngân sơn) |9, tr. Bài thơ cuối là: “Gới gdm dong tim sự/Trăng khuya nến ứng hỗng/Muôn nghìn sau ngoảnh lại/Dù mộng chẳng hư.147] Hanh trinh Mong ngdn sơn từ 1947- 1965 là một hành trình đài nhưng, cô đọng, là tỉnh túy thơ ngũ tuyệt của ông. Các bài thơ làm tir 1947 — 1953 phần nhiều mang một chút buôn thân phận.
Tâm tình tác giả luôn luôn lắng. đọng nơi hai câu cuối trong bài “Chiểu tiển biệt”, “Tình cổ nhân ‘Bén dé xưa”, "Neo mưa thu”, “Nhớ em”,. Ngược lại những bài thơ làm từ năm. 1959 -1962 phần nhiều mang tính chất nhẹ nhàng trong sáng, những cảnh xinh đẹp của quê hương cùng với hình ảnh các sinh vật nhỏ bé thân thương nơi đồng quê thường cảm hứng và làm nền cho những bài thơ đơn giản nhưng đầy đặn hồn thơ thể hiện sinh động qua các tác phẩm: “Ñang đồng”, “Đồng thu”, "Đơn giản”, “Âm ba”.
Những câu thơ giàu chất triết lý trong Afông ngân sơn cứ ám ảnh người đọc, người nghe, gợi nên những dấu chấm hỏi khó. lý giải về cõi thực, hư: Không gian chìm bỏng mộng én khuya chong âm “Một thoảng tan hàng lệ Auôn nghìn kiếp phù dụ (Bóng phủ sinh) “Thai nghén từ năm 1966 và hoàn thành vào 1972 Giot ¿răng trình làng eây nên những xôn xao, tán thưởng của độc giả. Những câu thơ nhẹ, lãng lang, sầu biếc và nhẹ nhàng đi vào lòng người. Đọc Giọr ứrăng ta cảm thấy như bấy lâu nay ta đánh quên kho báu vô giá của đời mình, những bài thơ bắt ta phải thường trực nhìn vào cuộc đời, nhìn lại chính mình.
Bình Giọr răng có nhiều nhà phê bình, nhà thơ, nhà văn như: Nguyễn Hiến Lê, Chu Thảo, Trần Hữu Cư, Trúc Như. Giọr (răng là những cái nhìn bén nhạy vào đời người, vào tình cảm, vào thiên nhiên. Chất sáng tạo nằm trong từng hơi thở thơ, ai tỉnh tế và bén nhạy lắm mới hiểu hết được “Giọr trăng” và phải đọc cảng lâu mới càng ngắm. Tiếng vàng khó chào đời mang một tâm sự, trăn trở cho vận mệnh đất nước, chiến tranh với nhiều mắt mác dưới góc nhìn riêng của nhà thơ, tập thơ.
viết theo thể thất ngôn luật thi gồm 137 thiên soạn từ thời tiền chiến, kháng. chiến và hậu chiến, trong Tiéng vàng &»ô phần nhiều là thơ hậu chiến làm từ 1955 cho đến 1972, Nhiéu bai tho mang du vét thei dai nur bai Diu hiu gée hep, Gươm mài hận, Sùi sụt dòng thu, Tướng tá, Đăng quang. Quách Tắn cũng là người dành nhiều tình yêu thương đối với trẻ em, ông. đã viết tập thơ “Vi với trẻ em ” khởi đầu từ năm 1945 và hoàn thành vào năm 1954.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, vừa làm công tác giáo dục, vừa tham gia công tác địa phương, nhà thơ đã sáng tác những vẫn thơ phục vụ cho thiếu nhi. Và dường như ở với zrẻ em là tiếng cười vui giòn giã duy nhí nhiên nhất trong hành trình thơ, hành trình sáng tao của ông. Quách Tắn không làm thơ mà làm thỉ sĩ, vì ông là nhà thơ của trí tuệ, của cái đẹp giữa nhân tình gần gũi, bình dị, thuần lương. Ông chỉ sử dụng văn chương để gởi gắm tự sự tâm tình của mình, nhờ thể sáng tác của ông chia sẻ cùng người đọc vui với niềm vui của ông, cười chung với ông một nụ cười hạnh phúc, nhưng ông cũng không quên gợi lên những tỉnh cảm trìu mến, khơi dậy ở người đọc về thân phận của con người.
Từ 1973 đến 1992 Sau hơn 60 năm cuộc đời, Quách Tắn trở về với chính mình, trằm tư hon, triét lý hơn. Những năm tháng cuối đời, ông hoài niệm, mong nhớ quá khứ và cả xót xa, nghẹn ngào khi chính mình rơi vào bắt hạnh, bi kịch: ông bi mù. Hành trình thơ ông những năm về sau là hành trình tìm, gọi tên những bắt an ở tằng sâu của tâm hồn. 'Bắt đầu cho những nốt trằm của bản nhạc cuộc đời ông là sự ra đời của tập thơ: Trăng hoàng hôn gồm 130 bài tuyệt lục bát được sáng tác trong thời gian 1975 -1977.
Tring hoàng hôn là tiếng lòng thôn thức chứa đầy tâm sự “Toan viti đồm lửa văn chương/Dòng trôi tâm sự gió sương lại nhiễu/Gương trong dù chẳng nhiễu điều/Lâng trăng cổ độ dẫn triều nước lên. " [9, tr 184], là những trăn trở của tuổi giả: “Tudi già thêm năng tình thơ/Nhớ thương ngudi khudt doi ché ngudi xa/Ldm dém tỉnh giắc canh gà/Đem chẳng thơ cũ mở ra rỗi nhìn" |9, tr. Năm 1999, tập Trăng ñoàng hôn được ấn hành nhân dịp tưởng niệm năm thứ 7 ngày mắt của nhà thơ. Ấn bản này chỉ trích in 60 bài.
Khép lại những năm tháng được nhìn cuộc sống bằng đôi mắt sáng của mình, Quách Tắn trở về đời thực với đôi mắt bị mù. Không níu kéo được. bước đi vội vã của thời gian và cũng như một quy luật tắt yếu của tạo hóa, Quách Tắn đối diện với ổi già qua những tâm sự thốn thức từ Cánh chỉm thu. Va e6 lẽ khi con người ta rơi vào.
bắt hạnh thì khao khát sống cũng như khao khát yêu càng trở nên cháy bỏng: “?rong lúc mình đau ôm/Ước gần người mình yêu/Để những đêm trần trọc/Đề những giờ quạnh hiu. Cánh chim thư trở thành những bức thư tình gởi về quá khứ, những hoài vọng cố hương, là tiếng hát của người thi sĩ giả gởi về quê mẹ. Sau khi nước nhà thống nhất, những vẫn thơ lục bát lại trở về nở hoa trên Giàn thiên lý: “Chung trà hóp vị bình minh Giàn hoa lý nở ngọt tình cổ viên. Đọc Giản hoa lý người đọc cảm nhận được hơi thở của Trăng hoàng hón còn pháng phất trong hương hoa lý.
Hương thơm và ánh trăng quyện lẫn vào nhau như tâm hồn của tác giả. Giản hoa lý đưa độc giả trở về đời thường với những cảm xúc dung di, công việc thường ngày. Qua đó, ta thấy bên cạnh. một Quách Tắn hoa là một Quách Tắn gần gũi, thân quen, chất mộc mạc làm nên nhân cách nhà thơ.
Một chút tỉnh của Mùa cổ điển vương lại trong vị thơ. Phẩn bướm còn vương. Bắt đầu sáng tác năm 1975, xuất bản năm 1983, tác phẩm là sự pha. lẫn nhiều nét buồn của tuổi già và vị cay đắng của cuộc đời trong các bài Tết Binh Thin, Vin Tết Canh Thân, Xuân báy ba, Hăm lăm xuân nữa.
Với lời thơ nhẹ nhàng, đơn giản, nhưng giả dặn, kỹ thuật thơ thanh thoát đẻ dồn vị cay đắng cô đọng vào hai câu thơ cuối cùng, tập thơ đã ghi lại những khoảnh. khắc buồn, những trăn trở suy tư của tuổi bóng xế và những nụ cười sót lại trong tâm hồn một nhà thơ yêu nước _Mai cười gió sớm lân la mộng. Đào nở hương thơm bát ngắt tình (Bóng thái bình, Phẩn bướm còn vang) Tap Xuẩn cỏn rơi rớt mang thông điệp cuối cùng của người thi sĩ công. hiển trọn đời mình cho văn học.
Khởi làm từ năm 1984 và kết thúc vào những. năm cuối cuộc đời, toàn tập có 99 thiên gồm các bài thất ngôn bát cú, ngũ ngôn bát Với hai câu chuyển kết: “Aghin dặm gió thư đùa tóc bạc/Xuân còn rơi rớt tiểng chim oanh " |9, tr.390], tập thơ trở thành bản tình ca khép lại một đời thơ trải dài trên 60 năm. Thời gian là câu trả lời cho mọi giá trị văn học, thơ Quách Tắn đã vượt cqua những thử thách của năm tháng, thơ ông mang thông điệp của 2 thể kỉ, trải qua nhiều giông tố của cuộc đời, để hôm nay, chúng ta ngồi đây, bình tâm. thưởng thức hương thơ Quách Tắn, một thế giới thơ có thể làm cho ta tách mình trong giây lát khỏi cuộc đời bận rộn để chiêm nghiệm vẻ đẹp thiên nhiên va tinh người.
Thơ Quách Tắn thuộc dòng thơ Đường luật Việt Nam chảy suốt từ thơ cổ điển đến thơ hiện đại. Hơn 600 năm Việt hóa, thơ Đường luật 'Việt Nam ngày cảng tinh tế, đi luyện với những tên tuổi như bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương. Thơ Đường luật của Quách Tắn thâm trằm, hàm súc, mỗi bài là một ý cảnh độc lập. Cái hay của thơ Quách Tắn chẳng ở riêng ở nơi từ, nơi nơi ý, nơi mạch hay là nó ở cùng một lúc ở từ, ở tứ, ở ý, ở mạch, ở cả bốn chốn ấy.
Người đọc thơ cảm thông với thơ, cùng với thơ làm một, rồi gật gù, rồi rom rớm nước mắt, rồi buồn vẫn vơ. “Trong hành trình sáng tạo của mình, thỉ sĩ Quách Tắn góp mặt vào làng, thơ và không ngừng canh tác trên cánh đồng thi ca trù phú những hình tượng nghệ thuật sống động vẻ tình yêu, về cuộc sống. Quách Tin da đi xa nhưng. tâm hồn và ý thơ đượm tình dân tộc, thắm đẫm màu sắc triết lý, hòa lòng với thiên nhiên vẫn còn ngân nga trong thí đàn văn học hôm nay và mai sau.
THO QUACH TAN TRONG MACH NGUON THO HIỆN ĐẠI VIET NAM 1. Đặc điểm chung cũa thơ hiện đại Việt Nam Đầu thế ki XX, thực dân Pháp đây mạnh 2 cuộc khai thác thuộc địa: thứ nhất (1897 - 1914) và lần thứ hai (1919 - 1929), dẫn đến sự chuyển biến sâu sắc về cơ cấu xã hội: giai cấp phong kiến mắt dần địa vị thống trị, nông. «dan bj ban cùng hóa, giai cấp vô sản xuất hiện, giai cấp tư sản ra đời, xã hội Việt Nam bị phân hóa dữ dội, đất nước ta sống trong chế độ thực dân nửa phong kiến, nhân dân lầm than, cơ cực. Tir 1940 - 1945, Pháp 2 lần bán nước ta cho phát xít Nhật.
Người Nhật, người Pháp tràn ngập Đông Dương, chúng cố vơ vét hết tài nguyên thiên. nhiên ở xứ sở này, không những thế chúng còn đem văn hóa đến phổ biến và. 'bắt người An Nam phải học theo. Giữa cơn gió Á,mưa Âu, nhân vật trung tâm trong đời sống văn hoá là tầng lớp trí thức Tây học, họ chịu ảnh hưởng sâu sắc các trào lưu tư tưởng văn hoá, văn học phương Tây, họ đã tìm thấy ở nghề văn lẽ sống, từ đ văn chương trở thành hàng hoá, viết văn trở thành một nghề kiếm sống và văn học cũng phải hiện đại hóa.
Văn học hiện đại, thơ hiện đại Việt Nam cũng bắt đầu phát triển từ đây. Nổi bật rõ nét là văn học lăng mạn mà tiêu biểu là Thơ Mới (1932-1941), được đánh giá là “một thời đại dhỉ ca” [5, tr 15], với một lớp thỉ sĩ tải hoa như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Han Mặc Từ.