Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Trên thế giới 1. Những nghiên cứu về đánh giá đất đai. Nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng đến độ phì của đất.
Những nghiên cứu về dánh giá đất đai 1. Nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng đến độ phì của đất. Chương 2: Mục tiêu - nội dung và phương pháp nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu.
Giới hạn nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Đặc điểm điêu kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu. Địa điểm - vị trí địa lý 28 3. Địa hình - địa thế. Khí hậu - thủy văn 3.
Địa chất - thổ nhưỡng. Dân sinh - kinh tế. Thảm thực bì che phủ. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Điên biến độ phì đất dưới rừng keo lai. Diễn biến một số tính chất lý học đất. Dung trọng đất 4. Độ ẩm tự nhiên của đất 4.
Thành phần cấp hạt đất. Diễn biến một số chỉ tiêu hoá tính của đất. Diễn biến về lượng rơi rụng và lượng phán g 4. Biến đổi về vỉ sinh vật đất.
Quan hệ giữa sinh trưởng của keo lai với tính chất đất. Tương quan giữa Hvn với từng tính chất đất. Tương quan giữa D,; với từng tinh chat dat. Tương quan giữa sinh trưởng của keo lai.
với tổng hợp tính chất đất. 60 Chương 5:Kết luận và kiến nghị. Dién bién do phi dat dudi ring keo lai. Mối quan hệ giữa sinh trưởng của keo lai với tính chất đất 5.
Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phu biểu. iii MG DAU Đất và thực vật luôn có mối quan hệ với nhau, các loại đất khác nhau có những ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng của thực vật và ngược lại các loài thực vật khác nhau cũng có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì nhiêu của đất. Các nước đang phát triển là "cái kho" của rừng nhiệt đới dang dan dan bị cạn kiệt. Tốc độ phá rừng ở những nước này tương đối cao.
Trong khoảng từ năm 1981 - 1985 diện tích rừng nhiệt đới ở những nước này giảm xuống còn 1.93 tỷ ha với tốc độ phá rừng là 11. Nếu tính trong giai đoạn 1980 -1990 thì tốc độ phá rừng nhiệt đới ở những nước đang phát triển là 14.63 triệu ha/năm và theo điều tra mới đây thì tốc độ này là 12. 'Trong vòng 50 năm qua diện tích rừng ở Việt Nam đã giảm đi nhanh chóng. Năm 1943 diện tích rờng là 14,3 triệu ha chiếm 43% diện tích tự nhiên.
Đến năm 1993 chỉ còn 8,6 triệu ha chiếm 28% diện tích tự nhiên. Mức mất rừng hiện nay là khoảng 200.000ha bị chặt phá để làm nông nghiệp, 50.000ha bị cháy và điện tích còn lại do khai thác gỗ củi. Trong khi đó mức trồng rừng hàng năm chỉ đạt từ 80. Hậu quả của việc phá rừng, đặc biệt là rừng nhiệt đới và những biện pháp canh tác chưa hợp lý làm cho độ phì của đất giảm đi nhanh chóng dẫn đến một diện tích lớn đất đai bị thoái hoá.
Sự suy thoái đất đai thể hiện rõ rệt là nước ta có đến hơn 13 triệu ha là đất trống đồi núi trọc, trong đó những điện tích đã bị xói mòn trơ sỏi đá , mất tính năng sản xuất đạt xấp xỉ 1,2 triệu ha. Đất núi trọc không có rừng là 10. Độ phì nhiêu của đất là một trong những chỉ tiêu quan trọng và liên quan chặt chẽ với năng suất cây trồng. Hiện nay, sự thoái hóa đất và suy giảm độ phì đất đang diễn ra ở vùng nhiệt đới đặc biệt là các vùng đất dốc.
Áp lực dân số và các biện pháp canh tác bất hợp lý đã và đang phá vỡ các hệ thống quản lý độ phì nhiêu cổ truyền, chẳng hạn như canh tác nương rẫy, du canh. Ngày nay với canh tác liên tục ngày càng tăng, hàng trăm triệu tấn dinh dưỡng đang bị bóc rút ra khỏi đất mà không hề được bôi bổ lại[6]. Trong những năm gần đây, việc kinh doanh các loại cây trồng có tốc độ sinh trưởng cao, chu kỳ kinh doanh ngắn cũng làm cạn kiệt hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất. Do đó cũng làm cho sức sản xuất của đất bị giảm đi với tốc độ tương đối nhanh.
Nếu như độ phì đất không được phục hồi thì chúng ta chỉ thu được rất ít lợi ích do sử dụng các giống cải tiến và các biện pháp thâm canh hữu hiệu hơn đưa lại. Độ phì đất có thể phục hồi một cách hữu hiệu thông qua các biện pháp như bón phân đúng liều lượng, đúng chủng loại phân hóa học hoặc phân hữu cơ, sử dụng các mô hình canh tác hợp lý, kết hợp các loài cây cải tạo đất hay nói chung là sử dụng đất hợp lý. Vào đầu những năm 1960, 16 loài keo (Acacia) của Australia đã được đưa vào trồng thử nghiệm ở Việt Nam. Việc khảo nghiệm cho thấy Keo lá tram, Keo tai tượng và Keo lá liêm là những loài cây có nhiều triển vọng và được coi là loài cây trồng chủ yếu trong các chương trình trông rừng trên đất thoái hóa nghèo kiệt.
Ngoài giá trị về kinh tế như là nguyên liệu cho công nghiệp giấy, sô gia dụng, chất đối. các loài cây này còn có khả năng cải tạo đất rất tốt. Ở ViệL Nam trong giai đoạn từ 1986-1992 diện tích rừng keo lá tràm là 43.000ha và rừng keo tai tượng là 23. Trong những năm tới diện tích trồng keo sẽ tăng, dự kiến với tốc độ 10.
"Trong quá trình phát triển các loài keo ở Việt Nam, cây Keo lai đã được phát hiện và nó đã chứng tỏ nhiều ưu điểm vượt trội so với các loài keo bố mẹ đó là tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh trên đất trống đôi núi trọc nghèo kiệt. Chính vì vậy cây Keo lai đang được quan tâm và đang được trồng thử nghiệm ở nhiều nơi trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên khả năng cải tạo đất của Keo lai và quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Vì vậy việc thực hiện đề tài sẽ là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp cải tạo đất trống đôi núi trọc nhằm sử dụng đất đai hợp lý và bền vững.
Chuong 1 TONG QUAN VAN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Những nghiên cứu về đánh giá đất đai Đánh giá đất đai đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định độ phì nhiêu của đất và là cơ sở cho việc dé xuất cây trồng cũng như các giải pháp duy trì và bảo vệ độ phì đất. Ngay từ những năm 50, việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất.
Tuỳ từng trình độ phát triển của từng quốc gia riêng lẻ, phương pháp đánh giá đất đai được nhiều nhà khoa học hàng dau trên thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm. Do vậy nó đã trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũi với những nhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và người sử dụng. Những nghiên cứu và các hệ thống đánh giá đất đai sau đây được sử dụng tương đối phổ biến: e Phân loại khả năng thích nghi đất có tưới (Irigation Land Suitability Classification) của Cục cải tạo đất đai - Bộ Nông nghiệp Mỹ (USBR) xuất bản năm 1951[40]. Phân loại nay dựa vào độ phì của đất để đánh giá.
Phân loại này gôm 6 lớp (classes), từ lớp có thể canh tác được (arable) đến lớp có thể trồng trọt mội cách giới han (limited arable) va lớp không thể trồng trọt được (non-arable). Trong phân loại này, nhiều đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế định lượng cũng được đề cập nhưng giới hạn ở phạm vi thủy lợi. ® Bên cạnh đó, năm 1964, Klingebiel và Naontgomery)[40] thuộc Vụ Bảo. tôn đất đai - Bộ Nông nghiệp cũng đưa ra khái niệm "khả năng đất đai"(Land Capability) trong công tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ.
Trong việc đánh giá này, các đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Units) được nhóm lại dựa vào 4 khả năng sản xuất một loại cây thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chính thức là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng đối với mục tiêu canh tác được đề nghị. Hệ thống đánh giá đất đai này mang tính chất sơ lược, gắn đất với hiện trạng sử dụng đất hay còn gọi là "loại hình sử dụng đất". se Vào những thập niên 60, ở Liên Xô và các nước Đông Âu, việc phân hang và đánh giá đất đai cũng được thực hiện, bao gồm 3 bước sau: (ï) so sánh các hệ thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên (đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng); (ii) đánh giá khả năng sản xuất của đất đai và (ii) đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất). Phương pháp này mới chỉ thuần túy quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tượng đất đai mà chưa xem xét đây đủ đến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất đai.
® Nhiều quốc gia ở Châu Âu vào những năm 70 đã cố gắng phát triển các hệ thống đánh giá đất đai của họ, cuối cùng các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng cân phải có một nỗ lực quốc tế để đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa việc đánh giá đất đai. Vì vậy, có 2 Uỷ ban nghiên cứu được thành lập ở Hà Lan và FAO (Rome, Ý), kết quả là 1 dự thảo đầu tiên ra đời vào 1972, sau đó được 2 nhà khoa học Brinkman và Smith soạn lại và xuất bản năm 1973. Năm 1975 tại hội nghị ở Rome, những ý kiến đóng góp cho bản dự thảo năm 1973 đã được các chuyên gia hàng đâu về danh gid dat dai cua FAO (KJ.) biên soạn lại để hình thành nội dung phương pháp đầu tiên của FAO về đánh giá đất dai(A frame work for land evaluation) và công bố vào năm 1976, sau đó đã được chỉnh lý vào năm 198336] ® Ngoài những tài liệu cơ bản của FAO về đánh giá đất đai, FAO cũng đưa ra những hướng dẫn khác nhau về đánh giá đất đai cho các đối tượng chuyên biệt như: Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Land Evaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983)[37] Đánh giá đất dai cho nền nông nghiệp có tưới (Land evaluation for irrigated agriculture — FAO, 1980)[40] Đánh giá đất đai cho trồng trọt cỏ quảng canh (Land evaluation for extensive grazing, FAO,1990)[38] Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho qui hoạch sử dụng đất (Land evaluation and farming system analysis for land use planning, FAO, 1992)[39].