CHƯƠNG 1. Một số vấn đề cơ bản về từ tiếng Việt 1. Khái niệm về từ Từ là đơn vị cơ bản và quen thuộc của mọi ngôn ngữ, nhưng việc định nghĩa nó rất phức tạp. Có nhiều quan điểm nhìn nhận, định nghĩa khác nhau về từ.Buhler với quan điểm thiên về ngữ âm cho rằng: “Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường” [26, tr.
Khác với Buhler, E.Sapir đưa ra khái niệm thiên về ngữ nghĩa: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân có thể làm thành một câu tối giản” [26, tr.Fortunatov hiểu một cách chung chung hơn: “Từ là bất cứ âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ từ có một ý nghĩa khác với ý nghĩa của những âm cũng là từ khác” [26, tr.Brondal với quan điểm thiên về chức năng giao tiếp của từ lại nhận định “Từ bao giờ và ở đâu cũng phải là một yếu tố của thông báo” [26, tr. Tiêu biểu cho quan niệm miêu tả từ về mặt chức năng, Hans Glinz và J.Erben định nghĩa: “Từ là đơn vị đầu tiên của cái được biểu hiện, đối lập với câu là đơn vị đầu tiên của cái biểu hiện” [26, tr.net định nghĩa: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [65].com lại đưa ra khái niệm: “Từ là đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ. Từ là đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để cấu thành nên câu. Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ).
Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực” [69]. 8 Sau khi tiếp thu và tổng kết các ý kiến trên, chúng tôi xin mạn phép đưa ra định nghĩa về từ để phục vụ đề tài nghiên cứu: Từ là những hình thức âm thanh có tính bền vững của ngôn ngữ, có đủ ba bình diện, ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng. Vì vậy, việc nghiên cứu về mặt kết học và nghĩa học của từ là hoàn toàn cần thiết. Quan điểm tín hiệu nhị diện, tín hiệu tam diện về tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ là một dạng tín hiệu.
Vì vậy, việc nghiên cứu mặt kết học và nghĩa học của ngôn ngữ thực chất là nghiên cứu các cách kết hợp và nghĩa của các loại tín hiệu ngôn ngữ. Từ được xem là loại hình vật chất phổ biến, trung tâm của tín hiệu ngôn ngữ. Trong lịch sử ngôn ngữ học tồn tại hai quan điểm cơ bản về tín hiệu ngôn ngữ là quan điểm tín hiệu nhị diện và quan điểm tín hiệu tam diện. Quan điểm tín hiệu nhị diện là quan điểm kinh điển, được ông tổ chủ nghĩa cấu trúc F.Saussure người Thụy Sĩ đề xuất.
Quan điểm này cho rằng, “mỗi tín hiệu là một thực thể bao gồm hai mặt (bình diện) là cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Bình diện cái biểu đạt là một hình thức vật chất nào đó tác động vào giác quan của con người khiến ta tri giác được, nhận ra được thực thể đó. Bình diện cái được biểu đạt là một đối tượng, một nội dung ý nghĩa nào đó ứng với cái biểu đạt, được cái biểu đạt đó chỉ ra. Bình diện này có tính tinh thần, trừu tượng, chỉ nhận ra được nhờ các thao tác tư duy nào đó.
Như vậy, hai mặt của tín hiệu phải tương ứng, liên hợp chặt chẽ với nhau không thể tách rời” [2, tr. Quan điểm này đã giúp ngôn ngữ học truyền thống phát triển một cách mạnh mẽ. Quan điểm tín hiệu tam diện ra đời sau và thông dụng trong ngôn ngữ học hiện đại ngày nay, được đề xuất bởi hai nhà tín hiệu học người Mỹ là C. Theo quan điểm này, tín hiệu ngôn ngữ gồm ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học.
9 - Kết học là lĩnh vực của sự liên kết giữa tín hiệu này với tín hiệu khác trong thông điệp. Trong ngôn ngữ học, kết học tương ứng với lĩnh vực ngữ pháp. Xem xét bình diện kết học của ngôn ngữ là xem xét cái biểu đạt, xem xét mặt hoạt động ngữ pháp của tín hiệu. - Nghĩa học biểu đạt sự liên kết giữa tín hiệu với hiện thực, với cái được quy chiếu từ thế giới hiện thực.
Đây là lĩnh vực của chức năng miêu tả, những thông tin miêu tả, thông tin sự vật. Trong ngôn ngữ, nghĩa học xem xét mặt cái được biểu đạt, xem xét mặt ngữ nghĩa của ngôn ngữ. - Dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người dùng. Nó giúp xem xét đầy đủ hơn tín hiệu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, trong giao tiếp, gắn với một ngữ cảnh nhất định.
Ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học thống hợp nhau làm nên nghĩa đích thực của một tín hiệu ngôn ngữ Quan điểm này được xem là tiến bộ hơn vì mở rộng giới hạn nghiên cứu sang lĩnh vực hoạt động, lĩnh vực chức năng. Tuy vậy, cả hai quan điểm đều bổ sung cho nhau trong quá trình nghiên cứu về từ vựng tiếng Việt. Có thể thấy, cả hai quan điểm trên đều xem trọng bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa của tín hiệu từ vựng trong công tác nghiên cứu. Đặc điểm của từ tiếng Việt Có nhiều định nghĩa về từ tiếng Việt.
Để thuận lợi cho việc tiến hành đề tài, chúng tôi dựa vào quan điểm của Đỗ Hữu Châu. Trong cuốn Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang đặc điểm ngữ pháp nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [17, tr. Trong cuốn Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, ông trình bày một cách đầy đủ hơn: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống…) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có 10 với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [12, tr. Về đặc điểm của từ tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu khẳng định có 7 đặc điểm, gồm: đặc điểm về hình thức ngữ âm, đặc điểm về kiểu cấu tạo, đặc điểm về ngữ pháp, đặc điểm về ngữ nghĩa, đặc điểm là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu, đặc điểm về tính sẵn có, đặc điểm về tính hợp thể.
Còn Nguyễn Thiện Giáp chỉ tóm gọn trong 2 đặc điểm là: tính sẵn có và tính thành ngữ. Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi cho rằng, từ tiếng Việt có 4 đặc điểm cơ bản là: - Đặc điểm ngữ âm: Mặc dù có hiện tượng hòa nhập ngữ âm của các từ trong cụm số từ hai mươi năm (hăm lăm), ba mươi năm (băm lăm)… hay trong cụm danh từ với “ấy” phía sau ở phương ngữ Nam Bộ như trong ấy (trỏng), bà ấy (bả), anh ấy (ảnh)… nhưng đặc điểm nổi bật nhất của từ tiếng Việt vẫn là bất biến về hình thức ngữ âm do được cấu tạo từ các âm tiết cố định. Khác với ngôn ngữ hòa kết, tổng hợp, từ tiếng Việt dù đảm nhiệm vị trí nào trong câu cũng không thay đổi về ngữ âm. - Đặc điểm ngữ pháp: Đặc điểm này chi phối cả đặc trưng ngữ nghĩa lẫn khả năng tạo câu của từ.
Hai hình thức ngữ âm giống nhau hoàn toàn nhưng có đặc điểm ngữ pháp khác nhau thì là hai từ khác nhau. Đây là hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt. Chẳng hạn, trong câu “con ngựa đá con ngựa đá”, hai từ “đá” mang hai chức năng ngữ pháp khác nhau, một động từ, một danh từ nên là hai từ khác nhau. - Đặc điểm ngữ nghĩa: Một hình thức ngữ âm muốn được coi là từ thì phải có nghĩa.
Đây là đặc điểm quan trọng nhất để xác định một từ tiếng Việt. Nếu hai hình thức gữ âm giống nhau hoàn toàn mà có nghĩa khác nhau sẽ là hai từ khác nhau. - Đặc điểm ngữ dụng: Một từ tiếng Việt phải được (hoặc đã từng) sử dụng trong hoạt động hành chức, gắn với các hành động ngôn ngữ cụ thể. Bình diện kết học của từ tiếng Việt 1.
Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt - từ tố Trước hết, cần phân biệt giữa âm tiết, hình vị và từ tố trong tiếng Việt để xác định thuật ngữ dùng trong đề tài. Chuỗi lời nói mà con người phát ra gồm nhiều khúc đoạn dài ngắn khác nhau. Đơn vị phát âm ngắn nhất là âm tiết (syllable). Trong tiếng Việt, do “từ không biến đổi hình thức ngữ âm và vì đường ranh giới của âm tiết rõ và trùng với ranh giới của hình vị hay với đơn vị có nghĩa… cho nên có tác giả cho rằng hình vị của tiếng Việt là tiếng, mà tiếng là âm tiết.
Nói khác đi, theo quan điểm này, trong tiếng Việt, âm tiết là hình vị” [12, tr. Tuy nhiên, không nên đồng nhất âm tiết và hình vị, vì âm tiết là “đơn vị hành chức của cấp độ ngữ âm – âm vị” [12, tr.39] chứ không phải đơn vị mang nghĩa, dùng để tạo từ như hình vị. Theo Đỗ Hữu Châu, có “5800 âm tiết còn lại không thể dùng để tạo từ. Nói cách khác, không phải tất cả các âm tiết tiếng Việt đều là từ tố, đều có giá trị hình vị, đều được dùng để tạo từ” [12, tr.
Thông thường, hình vị chỉ có một âm tiết, nhưng cũng có những hình vị hai hoặc ba âm tiết. VD: bù nhìn, bồ hóng, ễnh ương, a xít, a pa tít… Ngôn ngữ học thế giới nhất quán cho rằng, từ của tất cả các ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ hòa kết như ngôn ngữ châu Âu, hay ngôn ngữ chắp dính, đơn lập, đều có thể phân tách ra thành những đơn vị ở cấp độ dưới trực tiếp và gọi các đơn vị đó là hình vị (morpheme/morphème). Bloomfield định nghĩa: “hình vị là hình thái (mang ý nghĩa) lặp đi lặp lại. Nó không thể lại được phân chia thành những hình thái (mang ý nghĩa) nhỏ hơn).
Từ đây rút ra kết luận rằng, cái từ mà ta không thể phân chia được nữa, hay là formant, là một hình vị” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu - 12, tr. Từ định nghĩa này, cần nhấn mạnh: - Thứ nhất, hình vị là hình thức ngữ âm có nghĩa (điểm khác biệt với âm tiết).