Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán TSCĐ trong các doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán TSCĐ tại công ty CP ĐT TM XNK Việt Phát. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại công ty CP đầu tư TM XNK Việt Phát. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm, đặc điểm, phân loại tài sản cố định trong doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản cố định trong doanh nghiệp Để tiến hành hoạt động SXKD, các DN cần thiết phải có đầy đủ các yếu tố đầu vào của QTSX bao gồm: Tư liệu LĐ, đối tượng LĐ và sức LĐ. TSCĐ là một bộ phận chủ yếu của tư liệu LĐ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động KD của DN. Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) thì “TSCĐ là một nguồn lực được kiểm soát bởi DN, là kết quả của một sự kiện diễn ra trong quá khứ, việc sử dụng tài sản nhằm mang lại lợi ích trong tương lai cho doanh nghiệp.” “Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 16 – Nhà xưởng, máy móc, thiết bị, định nghĩa TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất được sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ, cho thuê hoặc mục đích hành chính được dự định sử dụng nhiều hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh; Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 38-TSCĐ vô hình-là tài sản phi tiền tệ có thể xác định được và không có hình thái vật chất.” Theo giáo trình kế toán tài chính của Học viện Tài chính (2012) thì “TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD và giá trị của nó được chuyển dịch dần dần, từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được SX ra trong các chu kỳ SX.” Theo TS Phan Đức Dũng (2010) thì “TSCĐ là những tư liệu lao động thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và 11 giá trị của TS sẽ được phân bổ dần vào chi phí SXKD trong kỳ dưới hình thức khấu hao.” Theo cách tiếp cận của CMKT Việt Nam thì có thể hiểu “TSCĐ là những tư liệu lao động được DN nắm giữ để sử dụng cho hoạt động SXKD và phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ.” Theo CMKT của Việt Nam thì TSCĐ gồm có TCSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
Với CMKT Việt Nam VAS 03 - “Tài sản cố định hữu hình” quy định: “TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do DN nắm giữ để sử dụng cho hoạt động SXKD phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Với CMKT VAS 04 - “Tài sản cố định vô hình”: “TSCĐ vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do DN nắm giữ, sử dụng trong SXKD, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.” Như vậy có rất nhiều tài liệu đưa ra các khái niệm về TSCĐ và nhận thấy các khái niệm đó đều thống nhất như sau: “TSCĐ là những tài sản có giá trị đủ lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và được đầu tư, sử dụng để mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp.” Một TS được ghi nhận là TSCĐ khi thỏa mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; - Nguyên giá của TSCĐ phải được xác định một cách đáng tin cậy; - Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm; - Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành. Đặc điểm tài sản cố định trong doanh nghiệp Dựa vào các khái niệm về TSCĐ vừa nêu trên, có thể nhận thấy TSCĐ có những đặc điểm sau: 12 - TSCĐ là các tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn: Theo thông tư 45/2013/TT-BCT thì nguyên giá trước thuế của TSCĐ phải lớn hơn hoặc bằng 30 triệu đồng trở lên. - TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD của DN: Tiêu chuẩn về thời gian sử dụng trên một năm được áp dụng ở Việt Nam cũng như trên thế giới là bằng chứng về đặc điểm tham gia nhiều chu kỳ hoạt động sản xuất của TSCĐ.
- Khi tham gia SXKD giá trị của TCSĐ bị hao mòn dần và chuyển từng phần vào CP hoạt động SXKD, mặt khác đối với TSCĐ hữu hình, hình thái vật chất không bị thay đổi cho đến khi hư hỏng phải loại bỏ: Thông qua hình thức khấu hao tài sản mà giá trị của TSCĐ được chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phầm hoặc dịch vụ mà DN sản xuất được hoặc cung ứng được trong thời gian sử dụng tài sản để tạo ra sản phẩm, cung ứng dịch vụ đó. Do đó, khi giá trị của một TSCĐ được thu hồi toàn bộ nghĩa là tài sản đó đã thực hiện được vòng luân chuyển tài sản. Phân loại tài sản cố định trong doanh nghiệp TSCĐ có nhiều loại, mỗi loại có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, công dụng và thời gian sử dụng khác nhau, mục đích sử dụng khác nhau, vì thế để thuận lợi cho việc quản lý và kế toán TSCĐ cần phải tiến hành phân loại TSCĐ theo từng nhóm khác nhau theo những tiêu thức xác định. Mỗi cách phân loại sẽ có tác dụng riêng đối với công tác quản lý và kế toán.
Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện và đặc trưng kỹ thuật Căn cứ vào hình thái biểu hiện của TSCĐ, thì TSCĐ được phân chia thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình. “- TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình): Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu 13 hình, tham gia nhiều vào chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu.” “Theo quy định của Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013, giá trị tối thiểu của TSCĐ phải từ 30.000 đồng trở lên. Đồng thời TSCĐ HH là những tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định mà nếu thiếu một Tài sản nào đó thì hệ thống không hoạt động được.” Trong trường hợp một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết với nhau nhưng mỗi bộ phận có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một tài sản nào đó mà hệ thống vẫn thực hiện được chức năng chính thì mỗi bộ phận riêng lẻ nếu thoải mãn các tiêu chuẩn ghi nhận thì cũng được coi là một TSCĐ hữu hình độc lập. Theo Thông tư Số 28/2017/TT-BTC ngày 12 tháng 4 năm 2017 “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 và Thông tư số 147/2016/TT-BTC ngày 13 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ” của Bộ Tài chính ban hành thì TSCĐ Hữu hình được chia thành: Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: Là TSCĐ của DN được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng sân bay, cầu tầu, cầu cảng, ụ triền đà.
Loại 2: Máy móc, thiết bị: 14 Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của DN như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, giàn khoan trong lĩnh vực dầu khí, cần cẩu, dây chuyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ. Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải, ống dẫn khí. Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của DN như máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt. Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm: Là các vườn cây lâu năm như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh.; súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn bò.
Loại 6: Các TSCĐ là kết cấu hạ tầng, có giá trị lớn do Nhà nước đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế quản lý, khai thác, sử dụng: - TSCĐ là máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, tài sản được xây đúc bằng bê tông và bằng đất của các công trình trực tiếp phục vụ tưới nước, tiêu nước (như hồ, đập, kênh, mương); Máy bơm nước từ 8.000 m3/giờ trở lên cùng với vật kiến trúc để sử dụng vận hành công trình giao cho các công ty TNHH MTV do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ làm nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thủy lợi để tổ chức SXKD cung ứng dịch vụ công ích; 15 - TSCĐ là công trình kết cấu, hạ tầng KCN do Nhà nước đầu tư để sử dụng chung của KCN như: Đường nội bộ, thảm cỏ, cây xanh, hệ thống chiếu sáng, hệ thống thoát nước và xử lý nước thải.; - TSCĐ là hạ tầng đường sắt, đường sắt đô thị (đường hầm, kết cấu trên cao, đường ray. Loại 7: Các loại tài sản cố định khác: là toàn bộ các tài sản cố định khác chưa liệt kê vào sáu loại trên. - TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình): Theo CMKT VAS 04 - “Tài sản cố định vô hình” định nghĩa TSCĐ vô hình như sau: “TSCĐ vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do DN nắm giữ, sử dụng trong SXKD, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.” Theo Thông tư 45/2013/TT-BTC thì: Tài sản cố định vô hình là “những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả.