Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại và kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng ngân hàng Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại các chi nhánh agribank trên địa bàn tỉnh Bình Phước Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ cho các chi nhánh agribank trên địa bàn tỉnh Bình Phước Chương 5: Kiến nghị và kết luận 5 Chương 2 - TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống KSNB(1)(8) Chức năng kiểm soát có vai trò quan trọng trong mọi công việc quản lý, và kiểm soát nội bộ là một công cụ hữu hiệu để thực hiện chức năng kiểm soát. Trải qua hơn một trăm năm hình thành và phát triển, lý thuyết kiểm soát nội đã không ngừng được hoàn thiện cụ thể là qua các giai đoạn sau: Giai đoạn hình thành (từ năm 1992 trở về trước) Đầu thế kỷ 20, sau khi thắng trận trong cuộc chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha, tốc độ phát triển của các tổ chức kinh tế ở Mỹ tăng một cách nhanh chóng mà không có bất kì một sự kiểm soát nào. Cho đến khi họ nhận ra là không thể kiểm soát tài chính của công ty do tốc độ tăng trưởng quá nhanh. Do đó một bản báo cáo tài chính mẫu được tổng hợp từ các mục tiêu chung đã được đề ra, trong đó các tổ chức kiểm tra gian lận và sai phạm lẫn nhau.
Hệ thống kiểm tra nội bộ này có hiệu quả đánh dấu sự ra đời của khái niệm kiểm soát nội bộ. Khái niệm kiểm soát nội bộ (KSNB) ở giai đoạn này còn sơ khai chủ yếu người ta cho rằng kiểm soát nội bộ là việc kiểm soát nhằm ngăn chặn nhân viên lấy cắp tài sản của tổ chức. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929, Luật Chứng khoán năm 1933 và Sở Giao dịch Chứng khoán năm 1934 đã ban hành bắt buộc phải kiểm tra báo cáo tài chính của các công ty theo các nguyên tắc kiểm toán. Vai trò của kiểm toán viên ở giai đoạn này được nâng cao.
Sau đó các công ty ngày càng trở nên lớn hơn và phức tạp hơn, kiểm toán trở thành chức năng không thể thiếu trong mọi khía cạnh của quản lý kinh doanh là điều kiện tiên quyết của độ tin cậy báo cáo tài chính. Do đó vào năm 1949, Viện Kế toán Mỹ công bố một báo cáo đặc biệt định nghĩa kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ 6 các chính sách của người quản lý”. Báo cáo này cho thấy tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên cũng có những lời chỉ trích rằng phạm vi trách nhiệm của kiểm toán viên đã được mở rộng quá xa, dẫn đến lập luận ủng hộ một khái niệm hẹp của kiểm soát nội bộ.
Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate, trong đó có các khoản thanh toán bất hợp pháp cho chính phủ nước ngoài bị phát giác, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua Điều Luật Hành vi hối lộ ở nước ngoài. Điều luật này nhấn mạnh việc KSNB nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp và dẫn đến yêu cầu ghi chép rất đầy đủ mọi hoạt động. Lần đầu tiên, hoạt động kiểm soát nội bộ trong các tổ chức được đề cập đến trong một văn bản pháp luật. Sau sự đổ bể của các tổ chức tài chính Mĩ trong những năm 1980 Viện kế toán công chứng Mĩ (AICPA) thành lập Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting, hay còn gọi là Treadway Commission).
Hội đồng quốc gia này được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức là: • Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) • Hội kế toán Mỹ (American Accounting Association) • Hiệp hội quản trị viên tài chính (the Financial Executives Institute – FEI) • Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants – IMA) • Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (the Institute of Internal Auditors – IIA) Hoạt động của hội đồng này là nhằm mục tiêu xác định các yếu tố gian lận trên báo cáo tài chính và đưa ra các đề xuất để giảm thiểu phạm vi ảnh hưởng của chúng. Vai trò của nó đã được thực hiện vào năm 1987 khi nó phát hành một báo cáo có tiêu đề "Báo cáo tài chính gian lận", nhấn mạnh tầm quan trọng của KSNB và sự cần thiết của kiểm tra đánh giá. COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Ủy Ban thuộc Hội Đồng Treadway. Năm 1992 Ủy Ban này đã cho ra đời báo cáo KSNB , tạo nên một khởi đầu và tiếng nói chung cho các doanh 7 nghiệp và tổ chức; chính phủ Hoa Kỳ ban hành luật Sarbanes – Oxley quy định triển khai hệ thống KSNB cho tất cả các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, làm mở màn cho giai đoạn phát triển hệ thống KSNB tại quốc gia này và lan truyền trên thế giới.
COSO đã trở thành chuẩn mực được công nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Báo cáo COSO 1992 gồm có 4 phần: Phần 1 – Bản tóm lược : Tổng quan về KSNB cho nhà quản lý cấp cao. Phần 2 – Hệ thống lý luận : Định nghĩa về KSNB, mô tả các yếu tố của KSNB và chỉ ra những tiêu chí để kiểm soát hệ thống. Phần 3 – Báo cáo cho các thành phần bên ngoài : Hướng dẫn cách thức báo cáo cho các đối tượng bên ngoài về KSNB liên quan đến tài chính.
Phần 4- Các công cụ đánh giá : Bao gồm các bảng biểu phục vụ cho việc đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB. Thời kỳ hậu COSO (từ năm 1992 đến nay): Báo cáo COSO 1992 đã tạo lập nền tảng cho lý luận về KSNB. Nhờ đó hàng loạt các nghiên cứu phát triển KSNB ra đời theo nhiều hướng khác nhau : Phát triển theo hướng quản trị : năm 2001, dựa trên báo cáo COSO năm 1992, COSO nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp (Enterprise Risk Management Framework –viết tắt là ERM). Bản dự thảo đã hình thành và công bố và tháng 07/2003, theo đó ERM được định nghĩa gồm 8 yếu tố : Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát.
Phát triển theo hướng công nghệ thông tin : Năm 1996, CoBIT (Control Objectives for Information and Related Technology) do ISACA (Inform System Audit and Control Association) ban hành. CoBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường CIS, theo đó bao gồm những lĩnh vực sau: Hoạch định và tổ chức mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát. Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập : Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ chuyển sang sử dụng báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm : SAS 78 (1995) : Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài 8 chính (điều chỉnh SAS 55) SAS 94 (2001): Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính. Tuy nhiên, các chuẩn mực kiểm toán quốc tế vẫn giữ quan điểm riêng của mình về KSNB theo hướng phục vụ cho công tác kiểm toán.
ISA 400 xem KSNB bao gồm ba yếu tố : Môi trừơng kiểm soát, các thủ tục kiểm soát và hệ thống kế toán. Các yếu tố này được trình bày theo ISA 400 thiên về phía kiểm soát kế toán. Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ : Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) định nghĩa các mục tiêu của KSNB bao gồm : • Độ tin cậy và tính trung thực của thông tin. • Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định.
• Bảo vệ tài sản. • Sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế. • Hoàn tất các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động, chương trình. Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghể cụ thể : Báo cáo Basel 1998 của Ủy ban Basel các Ngân hàng Trung ương đã đưa một công bố về KSNB trong ngân hàng.
Báo cáo Basel 1998 không đưa ra những lý luận mới mà chỉ vận dụng những lý luận cơ bản của báo cáo COSO 1992 vào lĩnh vực ngân hàng. Phát triển theo hướng quốc gia : Nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB. Điển hình là báo cáo CoCo 1995 (Canada) và báo cáo Turnbull 1999 (Anh). Các báo cáo này có những quan điểm riêng nhưng về tổng thể không có sự khác biệt lớn so với báo cáo COSO 1992.2 Định nghĩa kiểm soát nội bộ và hệ thống KSNB Khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, đặc biệt có liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị doanh nghiệp.
Quá trình nhận thức và nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến các định nghĩa khác nhau từ giản đơn đến phức tạp về hệ thống này. Đến nay, định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi là 9 “KSNB là một quá trình do con người quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây : • Báo cáo tài chính đáng tin cậy. • Các luật lệ và qui định được tuân thủ. • Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” (9) Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
KSNB là một quá trình: tức khẳng định KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong doanh nghiệp. KSNB tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó được xây dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải là một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. KSNB phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình.