Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận chung về quản lý tài sản và hiệu qua sw dụng tai sản trong các đơn vị sự nghiệp. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác quản lý tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản tại Trường Đại học Hà Nội. Chương 4: Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả sử dụng tài sản tại Trường Đại học Hà Nội.
CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN LÝ TÀI SAN VÀ HIỆU QUA SỬ DỤNG TÀI SAN TẠI CÁC DON VỊ SỰ NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu thé giới Đối với mỗi quốc gia thì mỗi đơn vị công chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu bộ máy của một đất nước. Sự ton tại và phát triển của các đơn vị này gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Nó tác động lớn đến nền kinh tế nói chung và hoạt động tài chính nói riêng. Các đơn vị sự nghiệp công lập được hình thành và phát triển nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng nhất định, là cơ sở để một đất nước phát triển toàn diện và bền vững. Đề đạt được điều này thì vai trò trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí cũng như tài sản của đơn vị là rất lớn. Tuy nhiên, do mô hình hoạt động, đặc điểm chính trị, chế độ, chính sách tại các quốc gia trên thế giới không giống nhau đặc biệt là chế độ quản lý tài chính nên các nghiên cứu về quản lý tài sản công giữa các quốc gia cũng khác nhau.
Tại Nhật Bản đã ban hành Luật Tự chủ địa phương quy định chính quyền địa phương gồm hai cấp (cấp tỉnh và cấp hạt), cấp cơ sở và cấp trung gian giữa cơ sở với Trung ương có quyền tự quyết và quản lý các chính sách công cộng theo sáng kiến riêng một cách tương đối tự đo. Đối với lĩnh vực quản lý tài sản công, thể chế tự chủ địa phương cho phép các địa phương tự chủ trong việc quyết định các chính sách quản lý tài sản công và mua sam công độc lập với Chính phủ. Vì vậy, chính sách quản lý và việc thực hiện mua sắm của các bộ, ngành Trung ương có thé khác với các tỉnh và giữa các tỉnh có thé khác nhau. Tuy nhiên, tại Nhật Ban cả chính quyền Trung ương và địa phương đều có xu hướng giảm chế độ mua sắm, trang bị tài sản cho các cơ quan nhà nước mà chuyên sang hình thức thuê tài sản.
Điều này thể hiện rõ qua khảo sát của Bộ Tài chính Việt Nam tại Osaka (Nhật Bản), một tỉnh điển hình trong việc thực hiện hiệu quả mô hình quản lý mua sắm, trang bị tài sản theo mô hình tập trung. Do mô hình hoạt động, đặc điểm chính trị, chế độ, chính sách tại các quốc gia trên thế giới không giống nhau đặc biệt là chế độ quản lý tài chính nên các nghiên cứu về quản lý tài sản công gần như không có tương đồng với Việt Nam. Vì vậy, tác giả chủ yêu đánh giá tong quan các nghiên cứu trong nước. Các nghiên cứu trong nước Khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được ban hành và có hiệu lực thi hành, các nghiên cứu về tài sản công từ thời điểm đó đến nay đã đa dạng hơn, với các mục tiêu, kết quả nghiên cứu tập trung vào nhiều van đề.
Có thể ké đến một số nghiên cứu sau: Trong đề tài luận văn Thạc sĩ: “Quản lý tài sản công tại Trường Đại học Khoa hoc, Đại học Thái Nguyên” của tác giả Dương Huong Giang năm 2020, đã trình bày chung về quản lý tài sản công trong trường đại học công lập như Quản lý quá trình hình thành TSC; Quản lý quá trình khai thác và sử dụng TSC; Quản lý quá trình kết thúc sử dụng từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quản lý TSC tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, luận văn đã chưa đánh giá được hiệu quả của việc sử sụng tài sản công của Trường. Luận văn Thạc sĩ: “Quản lý tài sản công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức” của tác giả Hoàng Thu Thủy năm 2018 đã làm rõ sự cần thiết tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư, sử dụng trang thiết bị y tế trong công tác quản lý tài sản công của mình. Từ đó các đề xuất các giải pháp hoàn thiện, tăng cường quản lý tai sản công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong thời gian tới. Tuy nhiên phạm vi dé tài không thé nghiên cứu được tat cả bệnh viện công lập thuộc Bộ Y tế tại khu vực Hà Nội, nên các vấn đề tác giả đưa ra chưa thật toàn diện.
Bên cạnh đó đề tài chủ yếu hướng về phần tự chủ tài chính tại các bệnh viện thuộc Bộ Y tế chưa hướng vào các bệnh viện địa phương. Đề tài khoa học “Quản lý tài sản công tại cơ sở giáo dục đại học công lập” của tác giả Nguyễn Thế Anh cùng cộng sự năm 2021 tập trung nghiên cứu quản lý tai sản công tại các cơ sở GDDH công lập trên góc độ quản lý quá trình hình thành, khai thác, sử dụng và kết thúc tài sản công đối với 4 loại tài sản công: Tài sản là đất, tài san là nhà, tài sản là ô tô và tài sản khác có nguyên giá 500 triệu déng/1 don vị tài sản trở lên. Không nghiên cứu tài sản là đất (gắn với giá trị vô hình) và ô tô và tài sản thông qua hình thức giao tài sản cho cơ sở GDDH công lập. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài sản công tại các cơ sở GDDH công lập ở Việt Nam vừa đảm bảo phù hợp với đặc thù của các cơ sở GDĐH công lập vừa đảm bảo thực hiện theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước 1.
Xác định khoảng trồng nghiên cứu Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước chỉ ra rằng van đề về quản lý và sử dụng tài sản tại các đơn vị hành chính sự nghiệp được khai thác và phân tích khá kỹ, tuy nhiên đi sâu phân tích về hiệu quả sử dụng tài sản cụ thé tại các trường đại học còn chưa có nhiều nghiên cứu, trong khi vấn đề thực hiện sử dung tài sản hiệu quả trong thời gian tới hiện đang rat cấp thiết. Vì vậy tác giả cho rằng đây cũng chính là khoảng trống chưa được đề cập đến nhiều trong các công trình nghiên cứu về quản lý và sử dụng tài sản trong các đơn vị sự nghiệp nói chung và tại trường đại học Hà Nội nói riêng. Khái niệm, đặc điểm và phân loại tài sản công trong đơn vị sự nghiệp 1. Đơn vị sự nghiệp 1.
Khái niệm đơn vị sự nghiệp Don vi sự nghiệp (DVSN) là cơ quan do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn nhất định trong những lĩnh vực nào đó và hoạt động được tài trợ bằng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, cũng như bằng các nguôn thu khác theo nguyên tắc cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng. Theo quan niệm này đơn vị sự nghiệp phải hội đủ ba điều kiện: là cơ quan nhà nước; không thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, chỉ sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng theo nhiệm vụ nhà nước giao; hạch toán theo quy định về quản lý tài chính công. Đặc điểm và phân loại don vị sự nghiệp Mặc dù hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng có thể nhận thấy hầu hết các DVSN đều có những đặc điểm sau đây: - Là các tổ chức cung cấp hàng hóa, dịch vụ công: Các DVSN được hình thành nhằm cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tẾ, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng. Tính chất chung của các hàng hóa, dịch vụ công là phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và Nhà nước có trách nhiệm tài trợ cho sản xuất và cung ứng các hàng hóa, dịch vu này bằng nguồn tài chính của mình.
Ngoài các hàng hóa, dịch vụ công do các cơ quan quản lý nhà nước cung ứng nhằm thực thi các chức năng do xã hội giao phó, DVSN còn có nhiệm vụ cung ứng hàng hóa, dịch vụ mang tính khuyến dụng hoặc phục vụ nhu cầu cơ bản của một nhóm xã hội nào đó. Hàng hóa, dịch vụ công khuyến dụng đa phần là các dịch vụ dùng chung, khó phân chia khâu phần hoặc là những hàng hóa, dịch vụ đặc biệt mà Nhà nước mong muốn công dân sử dụng. - Có tu cách pháp nhân: Các DVSN đều có đầy đủ các điều kiện dé được công nhận là pháp nhân theo Bộ Luật dân sự (năm 2015): Thứ nhất, được cơ quan có thâm quyên thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận. Tứ hai, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
Thứ ba, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bang tài sản đó. Thi? tr, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Ngoài ra, các DVSN đều được mở tài khoản riêng, được Nhà nước giao quyền tự chủ tài chính ở các mức độ khác nhau. - Kinh phí hoạt động của các ĐVSN chủ yếu lấy từ NSNN: Nhà nước cấp kinh phí dé đảm bảo cho hoạt động của các DVSN.
Một số đơn vị có thể thu một phần từ phí dịch vụ công hoặc một số nhỏ đơn vị có khả năng tự tài trợ bang cac khoan tu thu trực tiếp; nhưng về nguyên tắc, các khoản thu đó đều thuộc về NSNN, ngoại trừ Nhà nước cho phép đơn vị đó cơ chế hạch toán riêng. Nhìn chung, ở các nước phát triển, hàng hóa, dịch vụ công được cấp không phải trả tiền nên NSNN tài trợ toàn bộ chi phí hoạt động cho DVSN. Những năm gần đây ở nước ta, do quy mô hàng hóa, dịch vụ công ngày càng tăng, có nguy cơ vượt quá khả năng tài trợ của NSNN, nên gần đây Nhà nước áp dụng biện pháp thu phí một số hàng hóa, dịch vụ công cộng dé bồ sung nguồn tài chính cho các DVSN hoạt động.