Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu vẻ công bố thông tin phi tài chính ~ Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. ~ Chương 3: Kết quả nghiên cứu. ~ Chương4: Kết luận và hàm ý chính sách ng quan các tài liệu nghiên cứu Trên thể giới và Việt Nam hiện nay đã có khá nhiễu các nghiên cứu về 'CBTT nói chung và CBTT PTC nói riêng. Các nghiên cứu này đã đánh giá được phần nào mức độ CBTT PTC và cung cắp một số bằng chứng vẻ các nhân.
tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT PTC tại các quốc gia khác nhau. CBTT PTC có thể được thực hiện bởi các hình thức khác nhau, nhưng phổ biến nhất là cung. cấp thông tin thông qua BCTN của công ty (bao gồm cả thông tin tự nguyện và thông tin bắt buộc). Do đó, nghiên cứu đánh giá mức độ CBTT PTC song song với các nhân tố ảnh hưởng thông qua việc dựa trên BCTN ở cả hai máng CBTT tự nguyện và CBTT bắt buộc luôn được các nhà nghiên cứu đánh giá cao.
Các nghiên cứu CBTT PTC đã được thực hiện sớm hơn ở các nước phát triển. Trải qua hơn hai thập kỷ, số lượng và chất lượng của mảng nghiên cứu nay ngày cảng gia tăng. Nghiên cứu về CBTT PTC có thể được phân thành ba loại như sau: (1) Nghiên cứu CBTT PTC tự nguyện; (2) Nghiên cứu CBTT PTC bắt buộc (bao gồm CBTT PTC tủy ý - một dạng đặc biệt cua CBTT PTC bắt buộc) và (3) Nghiên cứu CBTT PTC nói chung (không tách biệt giữa CBTT. tự nguyện và bắt buộc), Belkaoui và Karnik (1989) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CBTT xã hội và hoạt động xã hội, hoạt động kinh tế của DN dựa trên 23 công ty lớn có trụ sở tại Mỹ.
Ty thuộc vào kiểu khái niệm hóa và hoạt động của các biến, kết quả đao động từ tương quan mạnh đến không tương quan. Sự đa dạng của các kết quá này có thể là do không phân tích được mỗi quan hệ giữa sự việc CBTT xã hội, thành tích xã hội và thành tích kinh tế trong một khuôn khổ khái niệm duy nhất. Từ đó, hai nhà nghiên cứu đã phát triển một mô hình thể hiện mỗi quan hệ tích cực về quyết định CBTT xã hội của DN về cả hiệu quả hoạt động xã hội và hiệu quả kinh tế, đồng thời, xác định các nhân tổ ảnh hưởng đến quyết định CBTT nay. Balluchi và cộng sự (2021), khi nghiên cứu về việc CBTT PTC bắt buộc, đã mở rộng và đóng góp vào lĩnh vực này bằng cách tập trung vào độ tin cậy trong báo cáo môi trường của các DN.
Van dụng phương pháp phân tích nội dung, tác giả đã đo lường mức độ tin cậy của các báo cáo PTC của 152 đơn vị kinh doanh, được công bố lần đầu tiên vào năm 2018, ở cắp độ bắt buộc về các báo cáo xã hội và môi trường theo luật pháp của Ý. Kết quả cho thấy sự tích cực trong mức độ đáng tin cậy của các báo cáo này và đặc biệt là mức độ dễ hiểu cao, nhưng mức độ đầy đủ thấp. Nghiên cứu cũng đồng thời để xuất một mô hình chỉ tiết để đo lường báo cáo xã hội và môi trường áp dụng cho bắt kỳ loại tài liệu nào, trong bắt kỳ môi trường địa lý nào và bắt kỳ khung thời gian nào. 'Khi nghiên cứu về sự tác động đến việc công bố trách nghiệm xã hội của.
DN, nhiều nhà nghiên cứu tập trung sâu vào các nhóm nhân tổ riêng lẻ khác nhau và sử dụng các lý thuyết cơ sở để lý giải kết quả nghiên cứu. công sự (2007), với mục đích đánh giá các động lực chính và mức độ CBTT tự. nguyện trong các BCTN, đã thực hiện nghiên cứu trên một mẫu lớn các công, ty công nghệ sinh học được niêm yết và kiểm tra mối quan hệ giữa việc CBTT tự nguyên về các giá trị vô hình của DN với các biển số lý thuyết đại điện. Kết cquả đã chỉ ra các nhân tổ liên quan đến CBTT tự nguyện của công ty cũng như chứng minh mỗi quan hệ của các nhân tổ này đến việc CBTT ở những DN có quy mô lớn và quy mô nhỏ hơn.
Cũng nghiên cứu về việc CBTT PTC tự nguyện, Cheng và Courtenay (2006) đã xem xét mối liên hệ giữa sự giám sát của hội đồng quản trị (HĐQT) và mức độ CBTT tự nguyện, và tìm ra bằng. chứng mới cho thấy các công ty có tỷ lệ giám đốc độc lập trong HĐQT cao hơn có liên quan đến mức độ CBTT tự nguyện cao hơn. "Những nghiên cứu trên đây hau như được thực hiện tại các nước phát triển. Đối với các nước đang phát triển, nghiên cứu về CBTT PTC được bắt đầu muộn hơn.
Kết quả chỉ ra rằng, có mỗi tương quan thuận giữa quy mô, độ tuổi và khả năng sinh lời của công ty với chất lượng của việc CBTT tự. Ngoài ra, kết quả cho thấy mối quan hệ yếu và gần như không đáng kể giữa tài sin và đòn bẩy tài chính với mức độ chất lượng CBTT tự nguyện. 'Khi nhắc đến các nhân tố tác động đến CBTT, Chiu và Wang (2015) áp dụng lý thuyết các bên liên quan để iêm tra các yếu tố quyết định chất lượng. bao cdo xã hội và kiểm tra thực nghiệm khả năng của lý thuyết trong việc giải thích chất lượng CBTT trong một nền kinh tế mới nỗi thông qua một mẫu gồm.
Các kết quả của nghiên cứu này đã chứng minh rằng quyền lực của. các bên liên quan, tư thể chiến lược, nguồn lực kinh tế, quy mô DN và khả năng hiển thị trên phương tiện truyền thông có liên quan đến chất lượng CBTT. Kết quả nghiên cứu này đã bỗ sung thêm bằng chứng khan hiểm về báo cáo xã hội ở một nước đang phát triển như Đài Loan và cung cắp một phương pháp hữu ích để đánh giá chất lượng CBTT. Cũng dựa trên nền tảng lý thuyết các bên liên quan, Duran và Rodrigo (2018) đã kiểm chứng các nhân tổ quyết định mức độ CBTT PTC tại các nước.
Mỹ Latinh với mẫu nghiên cứu gồm 643 công ty Mỹ Latinh trong khoảng thời gian 10 năm (từ năm 2006 đến 2015). Từ đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bên liên quan trong lĩnh vực này tại các nước đang phát triển về cơ bản khác với các nước phát triển, và do đó các nhân tổ tác động đến mức độ CBTT PTC cũng khác nhau. 'Khi nhắc đến các nhân tố tác động đến CBTT va CBTT PTC, đặc điểm. của ngành là một trong những nhân tố thường xuyên được phân tích trong các nghiên cứu.
Nghiên cứu của Reverte (2009) đã phân tích một số đặc điểm của công ty và ngành, cũng như sự xuất hiện trên phương tiện truyền thông, có phải là những nhân tố quyết định tiềm năng đối với thực tiễn công bồ trách nhiệm xã hội của DN của các CTNY ở Tây Ban Nha hay không. Kết quả cho thấy các công ty có xếp hạng trách nhiệm xã hội cao hơn có quy mô lớn hơn đáng kế về. mặt thống kê và khá năng hiển thị trên phương tiện truyền thông cao hơn và thuộc các ngành nhạy cảm hơn về môi trường, so với các công ty có xếp hạng. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng lợi nhuận và đòn bẩy tài chính.
đường như không giải thích được sự khác biệt trong thực tiến CBTT PTC giữa các CTNY ở Tây Ban Nha. Nhân tố có ảnh hưởng nhất để giải thích sự thay đổi của các công ty trong xếp hạng này là mức độ tiếp xúc trên phương tiện truyền thông, tiếp theo là quy mô và ngành. Do đó, có vẻ như lý thuyết về tính hợp pháp, được phản ánh thông qua các nhân tố liên quan đến khả năng hiện diện của công chúng hoặc xã hội, là lý thuyết phủ hợp nhất để giải thích các thực hành CBTT PTC của các CTNY ở Tây Ban Nha. “Xét về nhân tố ngành nghề trong nghiên cứu CBTT PTC, nghiên cứu trên cũng đã khẳng định rằng có sự khác biệt về mức độ CBTT PTC do mức độ nhay cảm của ngành.
Nhìn chung, các tập đoàn từ các ngành công nghiệp khai thác, dầu mỏ và hóa chất, sản xuất truyền thống sẽ nhắn mạnh thông tin liên quan đến các vấn đề môi trường, sức khỏe, an toàn và xã hội ở các báo cáo nhiều hơn so với các ngành địch vụ bởi tác động của các ngành này đối với môi trường và xã hội là rõ rằng hơn (Reverte, 2009). Do đó, có những nhà nghiên cứu đã tập trung khám phá mức độ CBTT PTC và các nhân tổ ảnh hưởng riêng. đối với ngành sản xuất bởi độ nhạy cảm cao của nó. 10 Pahuja (2009) da kiém chimg anh hưởng của các nhân tố liên quan đến công ty và ngành sản xuất đối với việc CBTT về môi trường của các công ty sản xuất lớn tại Án Độ.
Bằng ba giai đoạn nghiên cứu bao gồm nghiên cứu chỉ số CBTT về môi trường, tính tỷ lệ phần trăm điểm công bố và nghiên cứu các biến số dựa trên kỹ thuật hồi quy bội số, các kết quả đã cung cắp bằng chứng. mạnh mẽ hỗ trợ cho biến số quy mô, khả năng sinh lời, lĩnh vực, ngành và hoạt động môi trường có tác động mạnh mẽ đến việc CBTT môi trường. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích các DNSX lớn và loại bỏ các DNSX nhỏ trên cùng thị trường. Ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về mức độ CRTT và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT, bao gồm cả CBTT PTC.
Tạ ‘Quang Bình (2014) đã đóng góp vào mảng nghiên cứu thông qua việc điều tra các BCTN, nhằm kiểm chứng các nhân tổ có mức độ tác động khác nhau đối với việc CBTT tự nguyện. Đầu tiên, tác giả chỉ ra rằng các nhân tố thuộc về đặc điểm công ty gồm về quy mô công ty, khả năng sinh lời, ủy ban kiểm toán (UBKT) và cấu trúc “lãnh đạo kép” (cơ cấu lãnh đạo độc lập giữa Tổng giám. đốc và chủ tịch HĐQT); cùng với với cơ cấu sở hữu và quản trị công ty đều có liên quan tích cực với mức độ CBTT tự nguyện. Thứ hai, nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ ảnh hướng khác nhau của các biển độc lập như vậy đồi với tat cả các loại thông tin công.
đó có nghĩa là, mỗi biến độc lập có liên quan đáng. kể với một hoặc một số danh mục, nhưng không liên quan đến những biển khác. Gần đây, vấn để CBTT trên BCTN theo khuôn khổ báo cáo tích hợp lin đầu tiên được đề cập tại Việt Nam (Nguyen và cộng sự, 2021).