Luận văn Thạc sĩ: Công bố thông tin phi tài chính doanh nghiệp sản xuất niêm yết tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích công bố thông tin phi tài chính của doanh nghiệp sản xuất niêm yết tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

157
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Bố cục đề tài

1. CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÔNG TIN PHI TÀI CHÍNH

1.1. Cơ sở lý thuyết về công bố thông tin phi tài chính

1.1.1. Khái niệm thông tin phi tài chính

1.1.2. Vai trò của thông tin phi tài chính

1.1.3. Các hình thức công bố thông tin phi tài chính

1.1.4. Các quy định về công bố thông tin phi tài chính tại Việt Nam

1.1.5. Đo lường mức độ công bố thông tin phi tài chính

1.2. Lý thuyết khung về công bố thông tin phi tài chính

1.2.1. Lý thuyết các bên liên quan

1.2.2. Lý thuyết đại diện

1.2.3. Lý thuyết hợp pháp

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin phi tài chính

1.3.1. Các nghiên cứu về quy mô doanh nghiệp

1.3.2. Các nghiên cứu về khả năng sinh lời

1.3.3. Các nghiên cứu về đòn bẩy tài chính

1.3.4. Các nghiên cứu về tuổi niêm yết công ty

1.3.5. Các nghiên cứu về cấu trúc sở hữu

1.3.6. Các nghiên cứu về sự đa dạng giới trong hội đồng quản trị

1.3.7. Các nghiên cứu về quy mô hội đồng quản trị

1.3.8. Các nghiên cứu về sự phân tán quyền sở hữu

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1. Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu

2.1.1. Giả thuyết về quy mô doanh nghiệp

2.1.2. Giả thuyết về khả năng sinh lời

2.1.3. Giả thuyết về đòn bẩy tài chính

2.1.4. Giả thuyết về tuổi niêm yết công ty

2.1.5. Giả thuyết về cấu trúc sở hữu

2.1.6. Giả thuyết về sự đa dạng giới trong hội đồng quản trị

2.1.7. Giả thuyết về quy mô hội đồng quản trị

2.1.8. Giả thuyết về sự phân tán quyền sở hữu

2.2. Mô hình nghiên cứu

2.2.1. Thiết lập mô hình

2.2.2. Biến lượng mức độ công bố thông tin phi tài chính

2.2.3. Biến lượng các biến độc lập

2.3. Mẫu nghiên cứu

2.3.1. Quy mô mẫu nghiên cứu

2.3.2. Thu thập dữ liệu

2.4. Phương pháp phân tích

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mức độ công bố thông tin phi tài chính

3.1.1. Mức độ công bố thông tin phi tài chính

3.1.2. Đánh giá mức độ công bố thông tin phi tài chính

3.2. Mô tả các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin phi tài chính

3.3. Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin phi tài chính

3.3.1. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

3.3.2. Kiểm định giả định tự tương quan chuỗi

3.3.3. Kiểm định phân phối chuẩn

3.3.4. Ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin phi tài chính

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.1. Tóm tắt và thảo luận về kết quả

4.2. Hạn chế của nghiên cứu

4.3. Đóng góp của nghiên cứu và hàm ý chính sách

4.3.1. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

4.3.2. Đối với các doanh nghiệp

4.3.3. Đối với các nhà nghiên cứu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Thạc Sĩ Công Bố Thông Tin Phi Tài Chính

Ngày nay, thế giới đang chuyển mình sang nền kinh tế xanh, đòi hỏi các đơn vị kinh doanh phải minh bạch trong việc cung cấp thông tin. Thông tin không chỉ giới hạn ở khía cạnh tài chính, mà còn mở rộng ra các khía cạnh phi tài chính (PTC) liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp. Việc công bố thông tin này giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp, xây dựng hình ảnh tốt đẹp và tạo dựng niềm tin với nhà đầu tư. Xu hướng phát triển bền vững ngày càng mạnh mẽ đã thúc đẩy việc công bố thông tin, không chỉ tài chính mà còn cả thông tin bền vững đến các bên liên quan. Nghiên cứu của Manes-Rossi và cộng sự (2018) chỉ ra rằng việc tăng cường công bố thông tin PTC là cần thiết để duy trì tính hợp pháp của công ty. Nhiều quốc gia đã ban hành quy định về công bố thông tin phi tài chính, đặc biệt là ở Liên minh Châu Âu và các nước châu Mỹ. Các nước phát triển như Úc, Đức, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ đã ban hành các quy định yêu cầu doanh nghiệp công khai thông tin này. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, việc chú trọng vào công bố thông tin PTC bắt đầu muộn hơn, do đó tài liệu nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế. Ở Việt Nam, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 96/2020/TT-BTC về hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, có hiệu lực vào năm 2021, trong đó có quy định về việc công bố thông tin phi tài chính về môi trường, xã hội, tình hình quản trị công ty trong các báo cáo thường niên, báo cáo tình hình quản trị công ty và các báo cáo liên quan. Vì việc công bố thông tin PTC như vậy mới trở thành bắt buộc tại Việt Nam từ năm 2016, hiện vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về mảng đề tài này. Do đó, việc nghiên cứu về công bố thông tin nói chung và công bố thông tin PTC nói riêng tại Việt Nam là cần thiết. Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong phạm vi: (i) báo cáo tỉnh hình quản trị công ty (BCTHQTCT) nam 2020, (ii) báo cáo thường niên (BCTN) (bao gồm thông tin phát triển bền vững) năm 2020, hoặc BCTN va báo cáo phát triển bền vững (BCPTBV) (được tách riêng từ BCTN) năm 2020 và (ii) BCTC đã được kiểm toán năm 2020 của các DNSX niêm yết ở Việt Nam .

1.1. Mục Tiêu Phạm Vi Nghiên Cứu Luận Văn Thạc Sĩ Kế Toán

Luận văn này tập trung vào việc đánh giá mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam. Mục tiêu là phân tích thực trạng và đưa ra các khuyến nghị để tăng cường việc công bố thông tin PTC trong thời gian tới. Luận văn giải quyết hai mục tiêu cụ thể: đánh giá mức độ công bố thông tin PTC của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam và nhận diện các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin PTC này.

1.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Cấu Trúc Luận Văn Thạc Sĩ

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để tổng hợp cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Phương pháp định lượng được sử dụng để phân tích nội dung và đo lường mức độ công bố thông tin PTC. Phân tích hồi quy được sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin PTC. Cấu trúc luận văn bao gồm bốn chương: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin phi tài chính, Thiết kế nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu, Kết luận và hàm ý chính sách.

II. Thực Trạng Thách Thức Công Bố Thông Tin Phi Tài Chính

Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã đánh giá được phần nào mức độ công bố thông tin phi tài chính và cung cấp một số bằng chứng về các nhân tố ảnh hưởng. Công bố thông tin PTC có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức, nhưng phổ biến nhất là thông qua báo cáo thường niên của công ty, bao gồm cả thông tin tự nguyện và bắt buộc. Các nghiên cứu công bố thông tin PTC đã được thực hiện sớm hơn ở các nước phát triển và ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng. Nghiên cứu về công bố thông tin PTC có thể được phân thành ba loại: nghiên cứu công bố thông tin PTC tự nguyện, nghiên cứu công bố thông tin PTC bắt buộc và nghiên cứu công bố thông tin PTC nói chung. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đặc điểm của ngành là một trong những nhân tố thường xuyên được xem xét và mức độ nhạy cảm của ngành được ghi nhận là có sự ảnh hưởng nhất định đến việc công bố thông tin PTC của doanh nghiệp. Ngành sản xuất là ngành gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất; do đó các công ty sản xuất cần phải công bố thông tin PTC liên quan đến những vấn đề này. Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu đối với vấn đề công bố thông tin PTC của các công ty niêm yết, đặc biệt đối với ngành sản xuất. Hơn nữa, nước ta đang trên con đường hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá và hiện tại hoá cho đến năm 2030 nên số lượng các doanh nghiệp sản xuất chiếm tỷ trọng rất cao. Do đó, việc nghiên cứu về công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam là cần thiết.

2.1. Tổng Quan Các Nghiên Cứu Về Công Bố Thông Tin Tự Nguyện

Các nghiên cứu tập trung vào các nhóm nhân tố riêng lẻ và sử dụng các lý thuyết cơ sở để lý giải kết quả. Các nghiên cứu này thường kiểm tra mối quan hệ giữa việc công bố thông tin tự nguyện về các giá trị vô hình của doanh nghiệp với các biến số lý thuyết đại diện. Các nhân tố liên quan đến công bố thông tin tự nguyện của công ty cũng được chứng minh là có mối quan hệ đến việc công bố thông tin ở những doanh nghiệp có quy mô lớn và quy mô nhỏ hơn.

2.2. Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Ngành Đến Công Bố Trách Nhiệm Xã Hội

Nhiều nghiên cứu đã phân tích một số đặc điểm của công ty và ngành, cũng như sự xuất hiện trên phương tiện truyền thông, có phải là những nhân tố quyết định tiềm năng đối với thực tiễn công bố trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hay không. Kết quả cho thấy các công ty có xếp hạng trách nhiệm xã hội cao hơn có quy mô lớn hơn đáng kể về mặt thống kê và khả năng hiển thị trên phương tiện truyền thông cao hơn và thuộc các ngành nhạy cảm hơn về môi trường. Nhìn chung, các tập đoàn từ các ngành công nghiệp khai thác, dầu mỏ và hóa chất, sản xuất truyền thống sẽ nhắn mạnh thông tin liên quan đến các vấn đề môi trường, sức khỏe, an toàn và xã hội ở các báo cáo nhiều hơn so với các ngành dịch vụ.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Thiết Kế Mô Hình Thống Kê

Luận văn này thiết kế nghiên cứu để kiểm tra mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin PTC này. Chương này bao gồm bốn mục như sau: xây dựng chín giả thuyết nghiên cứu trên cơ sở ba lý thuyết khung về công bố thông tin PTC, thiết lập mô hình nghiên cứu, mô tả phương pháp được sử dụng để đo lường mức độ công bố thông tin PTC và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ này, trình bày quy trình chọn mẫu và các đặc điểm của mẫu, xác định phương pháp phân tích. Để đạt mục đích nghiên cứu là phân tích mức độ CBTT PTC của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ này, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phân tích tài liệu để làm rõ các vấn đề lý thuyết và thực tiễn, từ đó làm tiền đề cho việc đánh giá CBTT PTC ở các doanh nghiệp sản xuất, kiểm định và đánh giá tác động của các yếu tố được nghiên cứu. Để làm rõ ảnh hưởng của từng yếu tố, luận văn sử dụng phương pháp định lượng với mô hình phân tích đa biến, sử dụng hệ số hồi quy và phân tích tương quan để chứng minh.

3.1. Xây Dựng Giả Thuyết Nghiên Cứu Về Quy Mô Sinh Lời

Luận văn xây dựng giả thuyết về quy mô doanh nghiệp dựa trên lý thuyết các bên liên quan, cho rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn thường nhận được sự quan tâm nhiều hơn từ công chúng so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn, và do đó, cần công bố thông tin minh bạch hơn. Luận văn cũng xây dựng giả thuyết về khả năng sinh lời dựa trên lý thuyết các bên liên quan. Các nhà nghiên cứu tin rằng, chủ nợ là một trong những đối tượng có quyền lực ảnh hưởng lớn đến DN, đặc biệt là khi DN vận hành dựa. trên các khoản vay.

3.2. Xây Dựng Giả Thuyết Nghiên Cứu Về Tuổi Niêm Yết Sở Hữu

Luận văn này dựa trên lý thuyết về tính hợp pháp. Kumar và cộng sự (2021) cho rằng, cấu trúc sở hữu và công bố thông tin PTC có mối liên hệ mật thiết. Điều này có mối liên cquan mật thiết với sự giám sát của xã hội và luật pháp. Đồng thời, luận văn vận dụng những lý thuyết trên trong môi trường doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam.

IV. Kết Quả Phân Tích Thảo Luận Về Mức Độ CBTT

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bố thông tin phi tài chính trên các báo cáo BCTHQTCT, BCTN, BCPTBV và BCTC đã kiểm toán của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam trung bình đạt 82,20%. Mức độ công bố thông tin PTC này cao nhất đạt 100% và thấp nhất là 43,40% với độ lệch chuẩn là 12,24%. Mức độ công bố thông tin phi tài chính trung bình của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam có cao hơn so với mức độ công bố thông tin phi tài chính trung bình trong nghiên cứu của Tạ Quang Bình (2014). Mức độ cải thiệt công bố thông tin PTC có thể là do các DN đã nhận thức tốt hơn và áp dung đầy đủ hơn các quy định về công bố thông tin sau năm năm áp dụng kể từ khi Thông tư 155/2015/TT-BTC có hiệu lực. Mức độ CBTT PTC trung bình liên quan đến tổng quan về tổ chức và môi trường bên ngoài (55%), quản trị công ty (69%), rủi ro và cơ hội (58%) đều không cao hơn mức độ CBTT PTC tổng hợp trung bình trong nghiên cứu này.

4.1. So Sánh Mức Độ CBTT Giữa DN Sản Xuất Trên HOSE HNX

Kết quả kiểm định t-test độc lập cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong mức độ công bố thông tin PTC giữa các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên HNX và HOSE (p = 0,092 > 0,05). Tuy nhiên mức độ công bố trung bình có chênh lệch, trong đó mức CBTT của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên HOSE là 83.44% so với 80.58% của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX.

4.2. Thống Kê Đánh Giá Thực Trạng CBTT Của DN Sản Xuất

Qua tổng hợp 222 doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam năm 2020 thì có rất ít chỉ mục được tất cả doanh nghiệp công bố và có rất ít doanh nghiệp công bố tất cả các chỉ mục. Trong nhóm thông tin phi tài chính về môi trường, chỉ mục liên quan đến tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường chỉ có 3/68 doanh nghiệp công bố rõ ràng về hành vi vi phạm của mình.

V. Phân Tích Ảnh Hưởng Của Các Nhân Tố Đến Mức Độ CBTT

Luận văn này trình bày kết quả của mô hình hồi quy và kiểm tra chín giả thuyết nghiên cứu. Kết quả ước lượng hồi quy chỉ ra rằng, với mức ý nghĩa 5%, mô hình cơ sở có ý nghĩa thống kê trong giải thích mức độ công bố thông tin phi tài chính (NED) của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam (F=4,684, p<0,001). Chín biến độc lập trong Mô hình 1 giải thích được 13% sự biến thiên của biến phụ thuộc mức độ. Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính ghi nhận, với mức ý nghĩa 5%, có ba biến độc lập ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam. Cụ thể gồm quy mô công ty, khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính. Các biến còn lại gồm tuổi niêm yết công ty, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, sự đa dạng giới trong hội đồng quản trị (HĐQT), quy mô HĐQT và sự phân tán quyền sở hữu không có ý nghĩa thống kê trong Mô hình 1, với mức ý nghĩa 5%.

5.1. Ảnh Hưởng Của Quy Mô Doanh Nghiệp Khả Năng Sinh Lời

Phù hợp với giả thuyết H1, nhân tố quy mô công ty có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin phi tài chính của công ty. Phù hợp với dự đoán, nhân tố khả năng sinh lời có mối quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin phi tài chính của công ty, chứng minh thêm cho các bằng chứng trước đây còn có nhiều tranh cãi.

5.2. Tác Động Của Đòn Bẩy Tài Chính Đến Mức Độ CBTT

Đối với giả thuyết H3 về ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến mức độ công bố thông tin phi tài chính, kết quả trái ngược với giả thuyết đặt ra, nhân tố đòn bẩy tài chính có mối quan hệ nghịch chiều với mức độ công bố thông tin phi tài chính của công ty. Nghĩa là, các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam có đòn bẩy tài chính cao thường có xu hướng ít công bố thông tin phi tài chính hơn. Điều này có thể lý giải là do các CTNY này muốn hạn chế chủ nợ có nhiều cơ sở để đánh giá đúng đắn về điều kiện tài chính của DN.

VI. Kết Luận Hàm Ý Chính Sách Về Công Bố Thông Tin PTC

Nghiên cứu này đã đánh giá mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam trong việc tuân thủ các yêu cầu công bố thông tin PTC theo quy định của Việt Nam. Việc đánh giá mức độ công bố thông tin PTC của các doanh nghiệp sản xuất cung cấp được bằng chứng thực nghiệm hữu ích cho các cơ quan quản lý khi xem xét tính hiệu quả của các quy định về công bố thông tin này, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất. Theo đó, kết quả nghiên cứu chỉ ra được sự ảnh hưởng của ba nhân tố gồm quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính đến mức độ công bố thông tin PTC của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam. Để góp phần hoàn thiện việc công bố thông tin PTC của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam nói riêng và các công ty niêm yết ở Việt Nam nói chung, luận văn đưa ra các hàm ý chính sách và khuyến nghị với ba đối tượng cụ thể: đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, đối với các doanh nghiệp và đối với các nhà nghiên cứu.

6.1. Hàm Ý Chính Sách Cho Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước

Cơ quan quản lý có thể cân nhắc ban hành hướng dẫn cụ thể đối với các mục thông tin công bố, cũng như thiết lập quy định bắt buộc công bố thông tin phi tài chính và giám sát thực hiện. Quan trọng hơn là quy định này cần phải kiểm tra độ tin cậy thông tin được công bố, cùng với thiết lập các chính sách khuyến khích việc công bố này.

6.2. Khuyến Nghị Dành Cho Doanh Nghiệp Về CBTT Bền Vững

Từ thực trạng công bố thông tin PTC của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam trong nghiên cứu này cho thấy, các hướng dẫn công bố thông tin PTC liên quan đến môi trường và xã hội theo Thông tư 155/2015/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2015) là cần thiết nhưng vẫn chưa đủ hoặc còn khá chung chung. Do đó, luận văn khuyến nghị các công ty niêm yết nói chung và các doanh nghiệp sản xuất niêm yết ở Việt Nam nói riêng, trước hết, cần có sự nhận thức đúng đắn về lợi ích của việc công bố các thông tin liên quan đến phát triển bền vững của công ty bởi phát triển bền vững đang là xu hướng của nền kinh tế toàn cầu.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu vẻ công bố thông tin phi tài chính ~ Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. ~ Chương 3: Kết quả nghiên cứu. ~ Chương4: Kết luận và hàm ý chính sách ng quan các tài liệu nghiên cứu Trên thể giới và Việt Nam hiện nay đã có khá nhiễu các nghiên cứu về 'CBTT nói chung và CBTT PTC nói riêng. Các nghiên cứu này đã đánh giá được phần nào mức độ CBTT PTC và cung cắp một số bằng chứng vẻ các nhân.

tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT PTC tại các quốc gia khác nhau. CBTT PTC có thể được thực hiện bởi các hình thức khác nhau, nhưng phổ biến nhất là cung. cấp thông tin thông qua BCTN của công ty (bao gồm cả thông tin tự nguyện và thông tin bắt buộc). Do đó, nghiên cứu đánh giá mức độ CBTT PTC song song với các nhân tố ảnh hưởng thông qua việc dựa trên BCTN ở cả hai máng CBTT tự nguyện và CBTT bắt buộc luôn được các nhà nghiên cứu đánh giá cao.

Các nghiên cứu CBTT PTC đã được thực hiện sớm hơn ở các nước phát triển. Trải qua hơn hai thập kỷ, số lượng và chất lượng của mảng nghiên cứu nay ngày cảng gia tăng. Nghiên cứu về CBTT PTC có thể được phân thành ba loại như sau: (1) Nghiên cứu CBTT PTC tự nguyện; (2) Nghiên cứu CBTT PTC bắt buộc (bao gồm CBTT PTC tủy ý - một dạng đặc biệt cua CBTT PTC bắt buộc) và (3) Nghiên cứu CBTT PTC nói chung (không tách biệt giữa CBTT. tự nguyện và bắt buộc), Belkaoui và Karnik (1989) nghiên cứu về mối quan hệ giữa CBTT xã hội và hoạt động xã hội, hoạt động kinh tế của DN dựa trên 23 công ty lớn có trụ sở tại Mỹ.

Ty thuộc vào kiểu khái niệm hóa và hoạt động của các biến, kết quả đao động từ tương quan mạnh đến không tương quan. Sự đa dạng của các kết quá này có thể là do không phân tích được mỗi quan hệ giữa sự việc CBTT xã hội, thành tích xã hội và thành tích kinh tế trong một khuôn khổ khái niệm duy nhất. Từ đó, hai nhà nghiên cứu đã phát triển một mô hình thể hiện mỗi quan hệ tích cực về quyết định CBTT xã hội của DN về cả hiệu quả hoạt động xã hội và hiệu quả kinh tế, đồng thời, xác định các nhân tổ ảnh hưởng đến quyết định CBTT nay. Balluchi và cộng sự (2021), khi nghiên cứu về việc CBTT PTC bắt buộc, đã mở rộng và đóng góp vào lĩnh vực này bằng cách tập trung vào độ tin cậy trong báo cáo môi trường của các DN.

Van dụng phương pháp phân tích nội dung, tác giả đã đo lường mức độ tin cậy của các báo cáo PTC của 152 đơn vị kinh doanh, được công bố lần đầu tiên vào năm 2018, ở cắp độ bắt buộc về các báo cáo xã hội và môi trường theo luật pháp của Ý. Kết quả cho thấy sự tích cực trong mức độ đáng tin cậy của các báo cáo này và đặc biệt là mức độ dễ hiểu cao, nhưng mức độ đầy đủ thấp. Nghiên cứu cũng đồng thời để xuất một mô hình chỉ tiết để đo lường báo cáo xã hội và môi trường áp dụng cho bắt kỳ loại tài liệu nào, trong bắt kỳ môi trường địa lý nào và bắt kỳ khung thời gian nào. 'Khi nghiên cứu về sự tác động đến việc công bố trách nghiệm xã hội của.

DN, nhiều nhà nghiên cứu tập trung sâu vào các nhóm nhân tổ riêng lẻ khác nhau và sử dụng các lý thuyết cơ sở để lý giải kết quả nghiên cứu. công sự (2007), với mục đích đánh giá các động lực chính và mức độ CBTT tự. nguyện trong các BCTN, đã thực hiện nghiên cứu trên một mẫu lớn các công, ty công nghệ sinh học được niêm yết và kiểm tra mối quan hệ giữa việc CBTT tự nguyên về các giá trị vô hình của DN với các biển số lý thuyết đại điện. Kết cquả đã chỉ ra các nhân tổ liên quan đến CBTT tự nguyện của công ty cũng như chứng minh mỗi quan hệ của các nhân tổ này đến việc CBTT ở những DN có quy mô lớn và quy mô nhỏ hơn.

Cũng nghiên cứu về việc CBTT PTC tự nguyện, Cheng và Courtenay (2006) đã xem xét mối liên hệ giữa sự giám sát của hội đồng quản trị (HĐQT) và mức độ CBTT tự nguyện, và tìm ra bằng. chứng mới cho thấy các công ty có tỷ lệ giám đốc độc lập trong HĐQT cao hơn có liên quan đến mức độ CBTT tự nguyện cao hơn. "Những nghiên cứu trên đây hau như được thực hiện tại các nước phát triển. Đối với các nước đang phát triển, nghiên cứu về CBTT PTC được bắt đầu muộn hơn.

Kết quả chỉ ra rằng, có mỗi tương quan thuận giữa quy mô, độ tuổi và khả năng sinh lời của công ty với chất lượng của việc CBTT tự. Ngoài ra, kết quả cho thấy mối quan hệ yếu và gần như không đáng kể giữa tài sin và đòn bẩy tài chính với mức độ chất lượng CBTT tự nguyện. 'Khi nhắc đến các nhân tố tác động đến CBTT, Chiu và Wang (2015) áp dụng lý thuyết các bên liên quan để iêm tra các yếu tố quyết định chất lượng. bao cdo xã hội và kiểm tra thực nghiệm khả năng của lý thuyết trong việc giải thích chất lượng CBTT trong một nền kinh tế mới nỗi thông qua một mẫu gồm.

Các kết quả của nghiên cứu này đã chứng minh rằng quyền lực của. các bên liên quan, tư thể chiến lược, nguồn lực kinh tế, quy mô DN và khả năng hiển thị trên phương tiện truyền thông có liên quan đến chất lượng CBTT. Kết quả nghiên cứu này đã bỗ sung thêm bằng chứng khan hiểm về báo cáo xã hội ở một nước đang phát triển như Đài Loan và cung cắp một phương pháp hữu ích để đánh giá chất lượng CBTT. Cũng dựa trên nền tảng lý thuyết các bên liên quan, Duran và Rodrigo (2018) đã kiểm chứng các nhân tổ quyết định mức độ CBTT PTC tại các nước.

Mỹ Latinh với mẫu nghiên cứu gồm 643 công ty Mỹ Latinh trong khoảng thời gian 10 năm (từ năm 2006 đến 2015). Từ đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bên liên quan trong lĩnh vực này tại các nước đang phát triển về cơ bản khác với các nước phát triển, và do đó các nhân tổ tác động đến mức độ CBTT PTC cũng khác nhau. 'Khi nhắc đến các nhân tố tác động đến CBTT va CBTT PTC, đặc điểm. của ngành là một trong những nhân tố thường xuyên được phân tích trong các nghiên cứu.

Nghiên cứu của Reverte (2009) đã phân tích một số đặc điểm của công ty và ngành, cũng như sự xuất hiện trên phương tiện truyền thông, có phải là những nhân tố quyết định tiềm năng đối với thực tiễn công bồ trách nhiệm xã hội của DN của các CTNY ở Tây Ban Nha hay không. Kết quả cho thấy các công ty có xếp hạng trách nhiệm xã hội cao hơn có quy mô lớn hơn đáng kế về. mặt thống kê và khá năng hiển thị trên phương tiện truyền thông cao hơn và thuộc các ngành nhạy cảm hơn về môi trường, so với các công ty có xếp hạng. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng lợi nhuận và đòn bẩy tài chính.

đường như không giải thích được sự khác biệt trong thực tiến CBTT PTC giữa các CTNY ở Tây Ban Nha. Nhân tố có ảnh hưởng nhất để giải thích sự thay đổi của các công ty trong xếp hạng này là mức độ tiếp xúc trên phương tiện truyền thông, tiếp theo là quy mô và ngành. Do đó, có vẻ như lý thuyết về tính hợp pháp, được phản ánh thông qua các nhân tố liên quan đến khả năng hiện diện của công chúng hoặc xã hội, là lý thuyết phủ hợp nhất để giải thích các thực hành CBTT PTC của các CTNY ở Tây Ban Nha. “Xét về nhân tố ngành nghề trong nghiên cứu CBTT PTC, nghiên cứu trên cũng đã khẳng định rằng có sự khác biệt về mức độ CBTT PTC do mức độ nhay cảm của ngành.

Nhìn chung, các tập đoàn từ các ngành công nghiệp khai thác, dầu mỏ và hóa chất, sản xuất truyền thống sẽ nhắn mạnh thông tin liên quan đến các vấn đề môi trường, sức khỏe, an toàn và xã hội ở các báo cáo nhiều hơn so với các ngành địch vụ bởi tác động của các ngành này đối với môi trường và xã hội là rõ rằng hơn (Reverte, 2009). Do đó, có những nhà nghiên cứu đã tập trung khám phá mức độ CBTT PTC và các nhân tổ ảnh hưởng riêng. đối với ngành sản xuất bởi độ nhạy cảm cao của nó. 10 Pahuja (2009) da kiém chimg anh hưởng của các nhân tố liên quan đến công ty và ngành sản xuất đối với việc CBTT về môi trường của các công ty sản xuất lớn tại Án Độ.

Bằng ba giai đoạn nghiên cứu bao gồm nghiên cứu chỉ số CBTT về môi trường, tính tỷ lệ phần trăm điểm công bố và nghiên cứu các biến số dựa trên kỹ thuật hồi quy bội số, các kết quả đã cung cắp bằng chứng. mạnh mẽ hỗ trợ cho biến số quy mô, khả năng sinh lời, lĩnh vực, ngành và hoạt động môi trường có tác động mạnh mẽ đến việc CBTT môi trường. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích các DNSX lớn và loại bỏ các DNSX nhỏ trên cùng thị trường. Ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về mức độ CRTT và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT, bao gồm cả CBTT PTC.

Tạ ‘Quang Bình (2014) đã đóng góp vào mảng nghiên cứu thông qua việc điều tra các BCTN, nhằm kiểm chứng các nhân tổ có mức độ tác động khác nhau đối với việc CBTT tự nguyện. Đầu tiên, tác giả chỉ ra rằng các nhân tố thuộc về đặc điểm công ty gồm về quy mô công ty, khả năng sinh lời, ủy ban kiểm toán (UBKT) và cấu trúc “lãnh đạo kép” (cơ cấu lãnh đạo độc lập giữa Tổng giám. đốc và chủ tịch HĐQT); cùng với với cơ cấu sở hữu và quản trị công ty đều có liên quan tích cực với mức độ CBTT tự nguyện. Thứ hai, nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ ảnh hướng khác nhau của các biển độc lập như vậy đồi với tat cả các loại thông tin công.

đó có nghĩa là, mỗi biến độc lập có liên quan đáng. kể với một hoặc một số danh mục, nhưng không liên quan đến những biển khác. Gần đây, vấn để CBTT trên BCTN theo khuôn khổ báo cáo tích hợp lin đầu tiên được đề cập tại Việt Nam (Nguyen và cộng sự, 2021).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ