Chương 1- TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cấu trúc và tính chất của vật liệu ZnSe 1. Các tính chất vật lý hóa học cơ bản của vật liệu ZnSe Trong bảng 1.1 đưa ra các thông số cơ bản của vật liệu ZnSe. Các thông số cơ bản của vật liệu nano ZnSe Cấu trúc tinh thể Lập phương Hằng số mạng tinh thể 5,65 Å Khối lượng phân tử 144,37 g/mol Nhiệt độ nóng chảy 1793 K Điện tích hiệu dụng 0,70 Độ rộng vùng cấm 2,67 eV ZnSe là bán dẫn loại II-VI không tồn tại trong tự nhiên mà nó được tổng hợp từ kẽm hoặc các hợp chất của kẽm và selen hoặc các hợp chất của selen.
ZnSe là chất bán dẫn có độ rộng vùng cấm khoảng 2,67 eV ở 25oC [17,18], được ứng dụng chế tạo điốt phát quang và laser. Cấu trúc và hình thái học của ZnSe Cấu trúc Kẽm selennua (ZnSe) là một trong những hợp chất bán dẫn điển hình thuộc nhóm bán dẫn AIIBVI. ZnSe có thể tồn tại ở nhiều dạng cấu trúc phức tạp, nhưng có hai dạng cấu trúc chính là cấu trúc lục phương (wurtzite) và cấu trúc lập phương kẽm blende (sphalerite/zinc blende). Cấu trúc lập phương kẽm blende Nhóm đối xứng không gian tương ứng với cấu trúc này là Td2 F43m.
Đây là cấu trúc thường gặp ở điều kiện nhiệt độ < 950oC và áp suất bình thường. Trong mỗi ô cơ sở có 4 phân tử ZnSe, tọa độ các nguyên tử như sau: 4Se: (0, 0, 0); (0, 1/2, 1/2); (1/2, 0, 1/2); (1/2, 1/2, 0) 4Zn: (1/4; 1/4; 1/4); (1/4; 3/4; 3/4); (3/4; 1/4; 3/4); (3/4; 3/4; 1/4) 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Se Zn Hình 1.1 Cấu trúc lập phương kẽm blende (sphalerite/zinc blende) Trong cấu trúc lập phương kẽm blende, các nguyên tử Zn và Se hình thành 2 phân mạng lồng vào nhau, như đã đưa ra trong hình 1.1 có thể thấy, mỗi nguyên tử Zn được bao bọc bởi 4 nguyên tử Se ở 4 đỉnh của tứ diện đều với 3 khoảng cách a , với a = 5,65 Å là hằng số mạng. Mỗi nguyên tử Zn còn được 4 bao bọc bởi 12 nguyên tử cùng loại, chúng ở vòng phối trí thứ hai nằm trên khoảng 2 cách a. Trong đó có 4 nguyên tử nằm ở đỉnh của hình vuông trên cùng mặt 2 phẳng ban đầu, 4 nguyên tử nằm ở tâm của 4 mặt bên của tế bào mạng lưới bên dưới và 4 nguyên tử còn lại nằm ở tâm của 4 mặt bên của tế bào mạng lưới bên trên mặt phẳng kể trên.
Các lớp ZnSe định hướng theo trục [111]. Do đó tinh thể có cấu trúc lập phương kẽm blende có tính dị hướng. Các hợp chất sau đây có cấu trúc tinh thể theo kiểu lập phương kẽm blende: ZnS, CuF, CdS, InSb… Cấu trúc lục phương wurtzite Cấu trúc mạng lưới kiểu Wurtzite được đưa ra trong hình 1. Nhóm đối xứng không gian của mạng tinh thể này là C46v - P63mc.
Đây là cấu trúc bền ở nhiệt độ cao (nhiệt độ chuyển từ giả kẽm sang Wurtzite xảy ra ở 1020oC đến 1150oC) [29]. Mỗi ô mạng cơ sở chứa hai phân tử ZnSe với các vị trí lần lượt là: 2Zn : (0,0,0); (1/3,2/3,1/2) 2Se: (0,0,u); (1/3,2/3,1/2+u) với u = 3/8 [3]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Se Zn Hình 1. Cấu trúc mạng lưới lục phương kiểu wurtzite Mỗi nguyên tử Zn liên kết với 4 nguyên tử Se nằm trên 4 đỉnh của tứ diện gần đều.
Khoảng cách từ nguyên tử Zn đến nguyên tử Se là (u.c) còn 3 khoảng cách kia 1 1 2 2 2 2 1 bằng a c u (trong đó a và c là các hằng số mạng, với a = 3,82304 Å ; 3 2 c = 6,2565 Å). Ta có thể coi mạng wurtzite được cấu tạo từ hai mạng lục phương lồng vào nhau: một mạng chứa các nguyên tử Se và mạng kia chứa các nguyên tử Zn. Mạng 3c lục phương thứ hai trượt so với mạng lục phương thứ nhất một đoạn là. Xung 8 quanh mỗi nguyên tử có 12 nguyên tử cùng loại ở vòng phối trí thứ hai gần nó, được phân bố như sau: * 6 nguyên tử ở đỉnh lục phương nằm trong cùng mặt phẳng với nguyên tử ban đầu và cách một khoảng bằng a.
* 6 nguyên tử khác ở đỉnh lăng trụ tam giác cách nguyên tử ban đầu một 1 1 1 khoảng a 2 c2 2 3 4 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giản đồ nhiễu xạ tia X của hạt nano ZnSe có cấu trúc lập phương tâm mặt được đưa ra trong hình 1. Trên giản đồ có xuất hiện các đỉnh đặc trưng ở vị trí 27,5o; 45,4o ; 53,9o và 66,1o tương ứng với các mặt phẳng mạng (111), (220 ), (311 ) và (400) hằng số mạng a = 5,65Å [6].3 Giản đồ nhiễu xạ tia X của tinh thể ZnSe Hình thái hạt của ZnSe Trong quá trình điều chế, bột ZnSe có thể hình thành nhiều hình dạng cấu trúc khác nhau phụ thuộc vào phương pháp điều chế như: dạng hạt hình cầu (sphere), que (rod), dây (wire), với cấu trúc mạng lưới kiểu lập phương (cubic) hoặc lục phương (hexagonal) … 1. Tính chất đặc trưng của ZnSe ZnSe là chất bán dẫn, có năng lượng vùng cấm khá lớn (khoảng ~2,67 eV ở 25oC). Vì vậy nó có khả năng hấp thụ tia cực tím và ánh sáng có bước sóng nhỏ hơn 467,3 nm [4].
Khi ZnSe có kích thước hạt tinh thể khoảng 70μm, phạm vi truyền qua là 0,5-15μm. Vật liệu ZnSe có khả năng chịu sốc nhiệt cao, nên nó có thể là vật liệu quang học tốt nhất cho các hệ thống laser năng lượng cao.Trong phạm vi quang phổ thông thường ZnSe có độ tán xạ thấp [1,3,6]. Vật liệu ZnSe có khả năng chịu sốc nhiệt cao, với hệ số giãn nở nhiệt nhỏ (7,1. Độ tan trong nước của ZnSe là 0,001g/100g nước ở 25°C.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ứng dụng của vật liệu ZnSe kích thước nano mét ZnSe là chất bán dẫn thuộc nhóm II-VI, có vùng cấm ở 25oC là 2,67 eV [6]. So với các chất bán dẫn khác, ZnSe có được tổ hợp của nhiều tính chất quý báu, bao gồm tính chất điện từ, tính chất quang học, bền vững với môi trường hidro, tương thích với các ứng dụng trong môi trường chân không, ngoài ra ZnSe còn là chất dẫn nhiệt tốt, tính chất nhiệt ổn định. ZnSe kích thước nano là triển vọng cho điện tử nano và lượng tử ánh sáng.
Do có nhiều tính chất ưu việt như vậy nên hiện nay vật liệu ZnSe đang được ứng dụng để chế tạo các đi ốt phát ánh sáng màu xanh da trời và đi ốt laser, màn hình màu, màn huỳnh quang trong các thiết bị hiển thị, pin mặt trời, cáp quang chất lượng cao, vật liệu quang xúc tác,. Gần đây, một nhóm các nhà khoa học đứng đầu là GS hóa học John Badding thuộc Đại học Penn, Hoa Kỳ đã chế tạo một loại cáp quang đầu tiên có phần lõi là kẽm selenua [20,21]. Cáp quang này cho phép truyền ánh sáng nhiều và hiệu quả hứa hẹn mở ra công nghệ laser rada đa năng hơn. Công nghệ này có thể được ứng dụng để phát triển các laser tiên tiến phục vụ phẫu thuật trong ngành y, các laser ứng phó cho ngành quân sự và các laser cảm biến môi trường dùng để đo các chất ô nhiễm và phát hiện các hóa chất khủng bố sinh học [10,20,21].
Các nhà khoa học đã phát hiện thấy cáp quang được làm từ kẽm selenua mang lại 2 lợi ích. Thứ nhất, cáp quang mới có hiệu quả hơn trong việc đổi màu ánh sáng. Thứ hai, loại cáp này có nhiều tác dụng hơn không chỉ trong quang phổ nhìn thấy mà trong cả bức xạ điện từ hồng ngoại có bước sóng dài hơn của ánh sáng nhìn thấy. Công nghệ cáp quang hiện (với lõi SiO2) có truyền ánh sáng hồng ngoại không hiệu quả.
Tuy nhiên, cáp quang lõi kẽm selenua lại có khả năng truyền ánh sáng hồng ngoại có bước sóng dài. Khác với thủy tinh thạch anh thường được sử dụng trong cáp quang thông thường, kẽm selenua là một chất bán dẫn nên có khả năng truyền ánh sáng theo nhiều cách mà thủy tinh thạch anh không làm được. Bí quyết là ở chỗ cách đưa hợp chất này vào trong cấu trúc của sợi. Mặt khác, bán dẫn ZnSe còn là vật liệu nền tốt để pha tạp thêm các ion kích hoạt quang.
Khi pha thêm các ion kim loại chuyển tiếp vào bán dẫn ZnSe, có thể tạo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành bán dẫn từ pha loãng (DMSs) có khả năng mang đầy đủ các tính chất: điện, quang, ứng dụng sản xuất các thiết bị điện tử nền spin, xúc tác quang. Trong phản ứng quang xúc tác, ZnSe được hoạt hóa bởi các tia tử ngoại, ánh sáng khả kiến để chuyển hóa những chất hữu cơ độc hại thành những chất vô cơ không độc hại như CO2 và H2O. Trong công nghiệp sản xuất cao su, khoảng một nửa lượng ZnSe trên thế giới được dùng để làm chất hoạt hóa trong quá trình lưu hóa cao su tự nhiên và nhân tạo. Kẽm selennua làm tăng độ đàn hồi và sức chịu nhiệt của cao su, lượng kẽm trong cao su khoảng từ 2 – 5%.
Trong lĩnh vực sản xuất thủy tinh, men, đồ gốm, do kẽm selennua có khả năng làm giảm sự giãn nở vì nhiệt, hạ nhiệt độ nóng chảy, tăng độ bền hóa học cho sản phẩm nên nó được dùng để tạo độ bóng hoặc độ mờ [29]. Một số phương pháp điều chế ZnSe dạng bột kích thước nano mét Vật liệu ZnSe dạng bột kích thước nano có thể được điều chế bằng nhiều phương pháp khác nhau. Sau đây là một số phương pháp mà nhiều tác giả đã đề cập đến trong các công trình đã được công bố mà chúng tôi tham khảo được. Phương pháp sol - gel Trong những năm gần đây, phương pháp sol-gel được nghiên cứu nhiều và ứng dụng rộng rãi trong việc tổng hợp các vật liệu kích thước nano.
Trong phương pháp này, các chất đầu thông thường là muối vô cơ kim loại, hoặc là hợp chất hữu cơ kim loại. Trong quá trình sol-gel, tiền chất trải qua quá trình thủy phân và phản ứng polyme hóa tạo ra được sol. Sau khi xử lý nhiệt và làm già để ngưng tụ sol, ta thu được gel. Muốn chế tạo màng, người ta dùng phương pháp phủ quay (spin coating) hoặc phủ nhúng (dip coating).
Bản chất của quá trình sol-gel là dựa trên các phản ứng thủy phân và ngưng tụ các tiền chất. Bằng cách điều chỉnh tốc độ của hai phản ứng trên ta sẽ thu được sản phẩm mong muốn.