Chương 1 sẽ giới thiệu tổng quát về tính cấp thiết của đề tài, nêu lên bối cảnh khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương này cũng trình bày khái quát về mục tiêu nghiên cứu, trong đó nêu rõ các câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu cũng được giới thiệu tóm tắt. Những đóng góp của nghiên cứu cũng được nhấn mạnh cùng với kết cấu của bài nghiên cứu.
Chƣơng 2: Tổng quan lý thuyết về rủi ro danh mục và mô hình VaR Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về rủi ro, cách đo lường rủi ro và lý thuyết về VaR, bao gồm khái niệm, các yếu tố ảnh hưởng đến VaR và ba phương pháp để đo lường VaR thông dụng nhất. Ngoài ra, trong chương này, tác giả đã sơ lược kết quả các nghiên cứu trước đây về ứng dụng VaR để đo lường rủi ro danh mục đầu tư, làm tiền đề cho tác giả nghiên cứu đề tài này. Chƣơng 3: Cơ sở dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, kỳ nghiên cứu, quy trình thu thập và xử lý dữ liệu bao gồm: nguồn dữ liệu đầu vào, quy trình xử lý dữ liệu đầu vào. Tác giả trình bày cụ thể từng bước đo lường VaR, sử dụng mô hình GARCH(1,1) để tính toán phương sai thay đổi và thực hiện các kiểm định về sự phù hợp của mô hình để từ đó đo lường rủi ro danh mục đầu tư và dự báo cho giai đoạn tiếp theo.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 sẽ trình bày chi tiết kết quả ước lượng được. Từ đó tiến hành thảo luận về các kết quả nghiên cứu đã đạt được. Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 5 sẽ kết luận nghiên cứu, tóm tắt kết quả nghiên cứu chính. Đồng thời, chương này cũng đưa ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO DANH MỤC VÀ MÔ HÌNH VaR 2.1 Cơ sở lý thuyết về rủi ro và rủi ro danh mục đầu tƣ 2.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro danh mục đầu tƣ Trong thực tế, chúng ta nhận thấy là việc đầu tư vào các cổ phiếu thường mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với khi chúng ta đầu tư vào các chứng khoán nợ khác như tín phiếu, trái phiếu kho bạc hay đơn giản hơn là gửi ngân hàng dưới hình thức tiết kiệm. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, tại sao tất cả mọi người không cùng đầu tư vào một kênh mà lại phân tán ra nhiều kênh khác nhau. Câu trả lời là tỷ suất lợi nhuận thường tỷ lệ thuận với rủi ro, tỷ suất lợi nhuận cao đồng nghĩa với khả năng chịu rủi ro cao. Mặt khác, với nguyên tắc “không để tất cả trứng vào một giỏ”, các nhà đầu tư thường phân bổ vốn vào nhiều kênh tài chính khác nhau nhằm phân tán rủi ro.
Thông thường, các quyết định đầu tư được xem xét trên cơ sở cân bằng giữa lợi nhuận và mức rủi ro mà nhà đầu tư đó có thể chấp nhận được. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro. Theo Holton (2004), rủi ro là “sự không chắc chắn về các biến cố có thể xảy ra”. Sự không chắc chắn này chúng ta có thể đo lường thông qua các hàm phân phối xác suất.
Trong lĩnh vực tài chính, rủi ro được hiểu là sự không chắc chắn về lợi tức mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được từ việc đầu tư các tài sản tài chính, là một biến cố có khả năng xảy ra và cũng có khả năng không xảy ra. Hay nói một cách khác rủi ro là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng, lợi nhuận thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với lợi nhuận kỳ vọng. Các nhà đầu tư chỉ chấp nhận đầu tư vào các cổ phiếu có độ rủi ro cao hơn khi mà lợi nhuận kỳ vọng từ cổ phiếu đó cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu rủi ro danh mục đầu tư là là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng của một danh mục đầu tư.
Khi đầu tư vào các tài sản tài chính, chúng ta có thể gặp hai loại rủi ro là rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường) và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống là loại rủi ro tác động lên toàn bộ hoặc tất cả các tài sản trong danh mục nói riêng và tất cả các tài sản cấu thành nên thị trường nói chung, còn gọi là rủi ro thị trường. Các nguyên nhân có thể gây ra rủi ro hệ thống thường là các điều kiện chung của nền kinh tế như: GDP giảm, lãi suất tiền vay tăng cao, lạm phát tăng cao, chính trị bất ổn, thiên tai…Những điều kiện kinh tế trên ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp. Rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hay một nhóm nhỏ các tài sản.
Rủi ro này chỉ liên quan đến một hoặc một nhóm các doanh nghiệp cụ thể do đó ở một số tài liệu nó còn được gọi bằng tên gọi khác là rủi ro đơn nhất hay rủi ro cho một tài sản cụ thể. Nguyên nhân gây ra rủi ro phi hệ thống có thể do trình độ quản lý doanh nghiệp yếu kém, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu… Rủi ro phi hệ thống có thể được loại trừ thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư còn rủi ro hệ thống không thể loại trừ thông qua việc đa dạng hóa. Bởi vì, rủi ro có hệ thống tác động đến tất cả các loại tài sản khác nhau. Do đó, dù có bao nhiêu tài sản trong danh mục hay thay đổi tỷ trọng các tài sản trong danh mục đầu tư thì rủi ro có hệ thống cũng không thể bị loại bỏ.
Trên thực tế, rủi ro hệ thống còn được gọi là rủi ro không thể đa dạng hóa. Rủi ro tổng thể = Rủi ro hệ thống + rủi ro phi hệ thống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Nguồn: Drake và Fabozzi, 2010 Hình 2.1 Thành phần của rủi ro danh mục đầu tƣ 2.2 Đo lƣờng rủi ro Trong quản trị rủi ro tài chính hiện đại, nếu chỉ dựa vào các phương pháp phân tích định tính thì chưa đủ mà quan trọng hơn là phải hình thành, phát triển các phương pháp, mô hình để đo lường, lượng hóa rủi ro. Từ đó, giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định chính xác. Phương pháp đo lường rủi ro hiện nay vẫn sử dụng phổ biến là sử dụng phương sai (variance) và độ lệch tiêu chuẩn (standard deviation) để đo lường độ biến động của tỷ suất lợi nhuận thực tế khi đầu tư các chứng khoán so với tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của các nhà đầu tư.
Phƣơng sai và độ lệch tiêu chuẩn Rủi ro đề cập đến sự không chắc chắn về lợi nhuận thực tế mà nhà đầu tư nhận được từ việc đầu tư. Sự không chắc chắn này được thể hiện bởi nhiều tỷ suất lợi nhuận có thể nhận được với nhiều xác suất khác nhau. Độ phân tán của những giá trị lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nhuận có thể xảy ra so với lợi nhuận kỳ vọng càng lớn, thì sự không chắc chắn (rủi ro) càng lớn. Giá trị kỳ vọng của một biến ngẫu nhiên đơn giản chỉ cho biết trọng tâm của biến đó ở đâu chứ không cho biết các giá trị riêng lẻ của biến đó phân tán như thế nào xung quanh giá trị trung bình.
Thước đo phổ biến nhất cho sự phân tán là phương sai và độ lệch tiêu chuẩn. + Đối với chứng khoán riêng lẻ Phương sai của tỷ suất lợi nhuận (σ2) được xác định như sau: n 2 2 pi (R i E ( R) i 1 Trong đó: E(R): Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng. Ri: Tỷ suất lợi nhuận có thể nhận được trong tình huống i pi : Xác suất nhận được Ri Độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận (σ): n 2 p (R E ( R) i 1 i i Các ký hiệu được giải thích tương tự như trên. + Đối với danh mục đầu tƣ: Rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bằng chỉ tiêu phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) của tỷ suất lợi nhuận trên danh mục đầu tư (tương tự như trường hợp mỗi chứng khoán riêng lẻ).
Năm 1952, Harry Markowitz - được xem là người khai sinh ra lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại - đã phát triển mô hình lựa chọn danh mục đầu tư dựa trên nguyên lý đa dạng hóa. Markowitz đưa ra công thức tính toán phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) của tỷ suất lợi tức trên danh mục đầu tư như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Phương sai: n n n w w i w j ij 2 p 2 i i 2 i 1 i 1 j 1 j i Độ lệch chuẩn: n n n p w i2 i2 w i w j ij i 1 i 1 j 1 j i Trong đó: σp: Độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận trên danh mục đầu tư. Wi,(j) : Tỷ trọng của tài sản thứ i (hoặc j) trong danh mục đầu tư. σi: Độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận trên tài sản thứ i σij : Hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi nhuận trên tài sản thứ i và tỷ suất lợi nhuận trên tài sản thứ j trong danh mục đầu tư.
Hiệp phương sai là một hệ số đo lường mức độ theo đó lợi nhuận trên hai tài sản (tài sản A và tài sản B) biến động so với nhau. Hệ số tương quan là thước đo mối quan hệ tuyến tính giữa hai biến ngẫu nhiên, nghĩa là nó cho biết hai biến đó quan hệ với nhau như thế nào, mạnh hay là yếu. Hệ số tương quan có giá trị thay đổi từ -1 đến 1 (-1 ≤ ρAB ≤ 1). Giá trị 1 thể hiện một quan hệ tuyến tính thuận hoàn hảo giữa hai tài sản.
Giá trị -1 thể hiện quan hệ tuyến tính nghịch hoàn hảo. Nếu hệ số tương quan bằng 0, hai biến độc lập hoàn toàn với nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Cơ sở lý thuyết về mô hình giá trị rủi ro Value at risk (VaR) 2.