Chương I: Cơ sở khoa học về hợp tác công - tư trong đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông. Chương II: Thực trạng triển khai hợp tác công - tư (PPP) trong đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông tại tỉnh Đắk Lắk. Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường triển khai hợp tác công - tư trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. - 18 - e CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HỢP TÁC CÔNG - TƢ TRONG ĐẦU TƢ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG 1.
Cơ sở hạ tầng giao thông và vai trò của cơ sở hạ tầng giao thông trong phát triển 1. Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông Cơ sở hạ tầng được hiểu là tổng thể những hệ thống cấu trúc, thiết bị và các công trình vật chất - kỹ thuật được tạo lập và phát huy tác dụng trong mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ, đóng vai trò nền tảng và điều kiện chung cho sự phát triển kinh tế-xã hội, cho quá trình sản xuất và đời sống của người dân. Giao thông vận tải là một ngành dịch vụ sản xuất, là sự tiếp tục của quá trình sản xuất trong lĩnh vực lưu thông. Để thực hiện hoạt động giao thông vận tải, ngoài phương tiện giao thông cần có hạ tầng giao thông vận tải - một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống hạ tầng cơ sở của một vùng hay cả một quốc gia.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về cơ sở hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất, cơ sở hạ tầng giao thông là các hệ thống, các công trình và vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của xã hội bao gồm các công trình và mạng lưới giao thông.30-31] Cơ sở hạ tầng giao thông có các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, hạ tầng giao thông vận tải có sự liên kết cao, thường không giới hạn trong một đơn vị hành chính nhất định mà có sự liên kết chặt chẽ với cả vùng kinh tế bao gồm nhiều đơn vị hành chính, thậm chí cả quốc gia và với quốc tế. Chẳng hạn, một uyến đường giao thông thường có sự kết nối huyện này với huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác, thậm chí quốc gia này với quốc gia khác. - 19 - e Thứ hai, việc xây dựng và khai thác các cơ sở hạ tầng giao thông thường đòi hỏi một nguồn vốn lớn.
Chính vì vậy, vốn đầu tư của nhà nước là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của hệ thống sơ sở hạ tầng giao thông. Trước đây, hầu hết việc đầu tư cho phát triển hạ tầng giao thông ở Việt Nam do ngân sách nhà nước đảm nhận. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, các nguồn vốn tư nhân đổ vào xây dựng hạ tầng giao thông ngày càng nhiều do khả năng sinh lời từ các dự án hạ tầng cao. Thứ ba, thời gian để xây dựng và khai thác hệ thống sơ sở hạ tầng giao thông thường lâu dài.
Do tính chất này nên để các nhà đầu tư tư nhân an tâm bỏ vốn để đầu tư, cần có một hệ thống pháp luật ổn định. Thứ tư, thời gian sử dụng hạ tầng cơ sở giao thông thường rất dài và được nhiều đối tượng cùng chia sẻ sử dụng. Phân loại cơ sở hạ tầng giao thông Cơ sở hạ tầng giao thông có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau tuỳ thuộc vào bản chất và phương pháp quản lý, trong đó hai tiêu chí phổ biến là phân loại theo tính chất các loại đường và phân loại theo khu vực, địa bàn.30-31] Theo tính chất các loại đường, cơ sở hạ tầng giao thông được phân chia thành những loại chủ yếu sau: - Hạ tầng giao thông đường bộ: Hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm hệ thống các loại đường quốc lộ, đường tỉnh lộ, đường huyện, đường xã, đường đô thị, đường chuyên dùng và hệ thống các loại cầu: cầu vượt, cầu chui… cùng những cơ sở vật chất khác phục vụ cho việc vận chuyển trên bộ như: bến bãi đỗ xe, biển tín hiệu, biển báo giao thông, đèn đường chiếu sáng,… - Hạ tầng giao thông đường sắt: Hạ tầng giao thông đường sắt bao gồm các tuyến đường ray và đường gom, cầu đường sắt, đường hầm đường sắt, các nhà ga và hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt… - 20 - e - Hạ tầng giao thông đường thuỷ: gồm hạ tầng đường sông và hạ tầng đường biển, trong đó hạ tầng đường sông bao gồm các cảng sông, luồng lạch, kè bờ,… và những tiền đề để tiến hành khai thác vận tải đường thuỷ. Hạ tầng đường biển bao gồm hệ thống các cảng biển, cảng nước sâu, cảng container và các công trình phục vụ vận tải đường biển như hoa tiêu, hải đăng… - Hạ tầng giao thông đường hàng không: bao gồm những sân bay, đường băng.
Theo khu vực, có thể phân chia hạ tầng cơ sở giao thông thành: - Hạ tầng giao thông đô thị: bao gồm hai bộ phận là giao thông đối ngoại và giao thông nội thị. Giao thông đối ngoại là các đầu nút giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không nối liền hệ thống giao thông nội thị với hệ thống giao thông quốc gia và quốc tế. Giao thông nội thị là hệ thống các loại đường nằm trong nội bộ, nội thị thuộc phạm vi địa giới hành chính của một địa phương, một thành phố. Giao thông tĩnh trong đô thị bao gồm nhà ga, bến xe ô tô, các điểm đỗ xe… - Hạ tầng giao thông nông thôn: chủ yếu là đường bộ bao gồm các đường liên xã, liên thôn và mạng lưới giao thông nội đồng phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
Hạ tầng giao thông nông thôn đóng góp một phần quan trọng vào hệ thống giao thông quốc gia, là khâu đầu và cũng là khâu cuối của quá trình vận chuyển phục vụ sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản và sản phẩm tiêu dùng cho toàn bộ khu vực nông thôn. Vai trò của cơ sở hạ tầng giao thông trong phát triển Giao thông vận tải là huyết mạch trong nền kinh tế quốc dân, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự giao thương kinh tế, tới sinh hoạt, đời sống người dân cùng trật tự xã hội, vì vậy phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông hiện nay là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Hiện nay, cơ sở hạ tầng giao thông là - 21 - e một trong những nhân tố giúp cho Việt Nam duy trì và đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển với nền kinh tế tốc độ cao, cân đối các vùng. Hạ tầng giao thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy liên kết và hợp tác chặt chẽ trong vùng, kết nối thị trường vùng và liên vùng với thị trường quốc gia và quốc tế, khai thác cũng như hiện thực hóa các tiềm năng kinh tế của địa phương; nâng cao hiệu quả đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh… Vì thế, phát triển hạ tầng giao thông một cách đồng bộ, hiện đại là yêu cầu cấp thiết được đặt ra với nước ta hiện nay.
Cơ sở hạ tầng giao thông có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm an ninh trật tự, đến việc nâng cao đời sống của người dân, thể hiện trên các mặt chủ yếu sau: Thứ nhất, hạ tầng giao thông vận tải tốt thúc đẩy giao lưu kinh tế, làm tăng khả năng thực hiện phân công, chuyên môn hóa sản xuất, là tiền đề để tăng năng suất lao động: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự mở rộng các mối liên hệ lẫn nhau giữa các ngành, các vùng của nền kinh tế quốc dân sẽ dẫn đến việc phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất, trong đó cơ sở hạ tầng giao thông là nhân tố quan trọng, cơ sở hạ tầng giao thông tốt sẽ tạo điều kiện gia lưu kinh tế, phát triển đồng đều giữa các vùng lãnh thổ, giảm sự chênh lệch về mức sống và dân trí giữa các vùng. Ngày nay, hội nhập và giao lưu quốc tế về mọi mặt đã và đang là xu hướng tất yếu diễn ra mạnh mẽ giữa các nước trong từng khu vực và trên toàn thế giới. Xu hướng này chỉ được tiến triển thuận lợi khi có một kết cấu hạ tầng giao thông tốt giúp cho việc đi lại và giao lưu hàng hóa giữa các nước thuận tiện. Việc xây dựng hệ thống đường liên quốc gia, liên khu vực sẽ tạo ra hành lang vận tải giữa các nước, các khu vực và châu lục, góp phần mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa với các nước.
- 22 - e Như vậy, xây dựng mạng lưới giao thông là tiền đề, là điều kiện cho sự phân bố hợp lý lực lượng sản xuất trên các vùng miền, trên lãnh thổ cho sự phát triển tổng hợp các vùng kinh tế2 ax4. Với bất cứ quốc gia nào hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông cũng có vai trò nối liền sản xuất với tiêu thụ, giữa vùng này với vùng khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác và đáp ứng nhu cầu đi lại của con người, đảm bảo được mối liên hệ kinh tế, phục vụ sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các vùng, giữa các quốc gia, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội đất nước của vùng, địa phương. Thứ hai, hạ tầng giao thông phát triển góp phần giảm chi phí lưu thông, qua đó giảm chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường năng lực cạnh tranh: Để thực hiện quá trình vận tải, xếp dỡ, lưu kho, trung chuyển, phân phát nguyên vật liệu và hàng hóa trong quá trình cung ứng và tiêu thụ đòi hỏi khoản chi phí khá lớn (những chi phí này được gọi là chi phí logistics). Chi phí logistics tính trung bình trên thế giới chiếm khoảng 9-10% GDP.
Ở nước ta, chi phí này ước tính khoảng 15-20% GDP, do đó hàng năm nước ta phải chi một khoản tương đối lớn để thực hiện quá trình vận tải, cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ hoàng hóa. Nếu như phát triển được một hệ thống giao thông vận tải, tổ chức vận tải hợp lý, quản lý một cách có hiệu quả thì sẽ giảm được chi phí logistics, hạ thấp giá cả hàng hóa, tạo ra khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Việc giảm chi phí Cũng đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế quốc dân. Thứ ba, hạ tầng giao thông tốt góp phần thúc đấy phát triển các ngành kinh tế.