phần mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng với nội dung cơ bản nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt – Chi nhánh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt – Chi nhánh Bình Định. e 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng là loại hình tổ chức đã ra đời từ lâu và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với cộng đồng địa phƣơng nói riêng. Tuy vậy, vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng.
Để định nghĩa ngân hàng, ngƣời ta có thể căn cứ vào tính chất, mục đích và đối tƣợng hoạt động. Tổng quát lại thì Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất định so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế (Peter S. Theo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung một số điều; Số 47/2010/QH12,[9] Thì ngân hàng là doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Để thực hiện đƣợc vai trò trên, NHTM phải thực hiện các chức năng quan trọng sau: - Chức năng tạo tiền: là chức năng riêng có của NHTM, chức năng này đƣợc thực hiện thông qua hoạt động cho vay và đầu tƣ của các NHTM trong mối quan hệ với ngân hàng Trung ƣơng. Chức năng tạo tiền có ý nghĩa kinh tế lớn, hệ thống tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trƣởng vững chắc. Để lƣợng hoá chức năng tạo tiền của NHTM, các nhà kinh tế dùng e 7 khái niệm “số nhân tiền”. “Số nhân tiền” cho biết sự thay đổi của mức cung tiền so với cơ sở tiền mà hệ thống NHTM đóng vai trò quyết định trong sự thay đổi này.
- Trung gian tín dụng: NHTM là cầu nối giữa những ngƣời có vốn tạm thời nhàn rỗi với những ngƣời tạm thời thiếu vốn qua hình thức huy động vốn và cho vay. Vốn vừa là đối tƣợng kinh doanh vừa là mục đích kinh doanh. - Trung gian thanh toán: bên cạnh chức năng trung gian tín dụng, NHTM còn thực hiện một chức năng quan trọng khác là đƣa ra cơ chế thanh toán và thực hiện cơ chế đó. - Những chức năng khác: + Làm dịch vụ uỷ thác: với dịch vụ này NHTM có trách nhiệm sử dụng vốn để đầu tƣ và quản lý vốn, kể cả việc phân phối thu nhập theo các điều khoản của hợp đồng uỷ thác.
+ Bảo quản an toàn vật có giá: với lợi thế là nơi kiên cố để bảo quản tiền bạc và vật có giá của bản thân mình, các NHTM có điều kiện thực hiện chức năng bảo quản vật có giá của khách hàng. Với vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế và sự phức tạp trong hoạt động kinh doanh, hoạt động ngân hàng bao gồm nhiều nghiệp vụ và có thể kể đến một vài loại nghiệp vụ cơ bản nhƣ sau: nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ hối phiếu, kinh doanh ngoại hối, hoạt động kho quỹ, hoạt động tiết kiệm, hoạt động thanh toán séc, hoạt động thanh toán quốc tế, hoạt động điện toán, hoạt động kế toán, hoạt động kiểm toán nội bộ. Trong số các nghiệp vụ trên, nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và rủi ro trong kinh doanh ngân hàng chủ yếu cũng tập trung ở lĩnh vực này. Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia đƣợc sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo thời gian đã thoả thuận.
Phân loại tín dụng Có nhiều tiêu chí để phân loại tín dụng: - Căn cứ vào thời hạn cho vay: e 8 + Cho vay ngắn hạn: có thời hạn đến 1 năm + Cho vay trung hạn: có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm + Cho vay dài hạn: có thời hạn trên 5 năm - Căn cứ vào bảo đảm tín dụng: + Tín dụng không có bảo đảm: là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay có bảo lãnh của ngƣời thứ ba + Tín dụng có bảo đảm: là tín dụng có tài sản cầm cố thế chấp hay có bảo lãnh của ngƣời thứ ba - Căn cứ vào mục đích tín dụng: + Tín dụng bất động sản: đây là các khoản tín dụng đƣợc bảo đảm bằng bất động sản, bao gồm: + Tín dụng công thƣơng nghiệp: khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí nhƣ mua nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lƣơng + Tín dụng nông nghiệp: đây là khoản tín dụng cấp cho lao động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi gia súc. + Tín dụng cá nhân: khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua sắm hàng hoá tiêu dùng đắt tiền nhƣ xe hơi, nhà, di động, trang thiết bị trong nhà. + Tín dụng cho các tổ chức tài chính: khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác. + Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng mua các trang thiết bị, máy móc và cho thuê lại chúng + Tín dụng khác: bao gồm các khoản tín dụng khác chƣa đƣợc phân loại ở trên (ví dụ: tín dụng kinh doanh chứng khoán.
Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Định nghĩa rủi ro tín dụng Theo Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN: “Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”[12]. Nhƣ vậy, có thể hiểu rủi ro tín dụng là những tổn thất tiềm năng có thể xảy e 9 ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng nhƣ đã cam kết trong hợp đồng. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn thất tài chính nhƣ giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trƣờng của vốn.
Rủi ro tín dụng là một tất yếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, vì vậy chỉ có thể tìm ra phƣơng pháp quản lý, hạn chế rủi ro xảy ra. Nguyên nhân rủi ro tín dụng Thứ nhất, những yếu tố bất khả kháng tác động đến ngƣời vay khiến họ không trả nợ đƣợc hoặc trả nợ không đầy đủ cho ngân hàng. Thuộc về các yếu tố này bao gồm: thiên tai, chiến tranh, những thay đổi không dự tính trƣớc đƣợc trong chính sách của Chính phủ. Những yếu tố bất khả kháng này, đặc biệt là những thay đổi chính sách có thể tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho ngƣời vay.
Thứ hai, trình độ yếu kém của ngƣời vay trong việc quản lý các dự án đầu tƣ, phƣơng án sản xuất kinh doanh dẫn tới sử dụng vốn vay không hiệu quả trong khi bản thân các dự án này có khả năng sinh lời tốt. Sự việc này cũng có thể dẫn tới tổn thất cho ngân hàng nếu ngƣời vay không trả nợ đầy đủ, đúng hạn hoặc không có khả năng trả. Thứ ba, ngƣời vay có chủ ý lừa đảo cung cấp thông tin sai lệch hoặc cố ý không trả nợ cho ngân hàng mặc dù họ kinh doanh có lãi. Những thông tin nội bộ của doanh nghiệp đến với ngân hàng thƣờng là thông tin không cân xứng nên ngân hàng khó xác định độ tin cậy của các thông tin đó.
Thứ tƣ, ngân hàng đánh giá sai do trình độ cán bộ, thiếu am hiểu về ngƣời vay và lĩnh vực kinh doanh của họ. Thứ năm, là rủi ro đạo đức do cán bộ ngân hàng cố ý gian lận, thông đồng làm sai, lách chế độ. Thứ sáu, là rủi ro tác nghiệp: là khả năng xảy ra những tổn thất khi các nhân viên ngân hàng thực hiện sai quy trình, không tuân thủ chính sách và các quy định của ngân hàng, khi các chính sách, quy trình nghiệp vụ không phù hợp với thực ti n. Rủi ro tác nghiệp cũng có thể phát sinh do chính sách và quy trình e 10 cho vay lỏng lẻo, phƣơng pháp xem xét, phân tích còn hạn chế.
Từ những nguyên nhân trên cho thấy cần phải có biện pháp giải quyết và phƣơng án dự phòng hữu hiệu, nhƣ: xây dựng các chính sách tín dụng, xây dựng quy trình phân tích và thu thập thông tin tín dụng, hệ thống phân loại xếp hạng khách hàng, đào tạo và luân chuyển cán bộ tín dụng,. gọi chung là xây dựng một hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ hiệu quả. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức.
Quá trình nhận thức và nghiên cứu đã dẫn đến các quy định khác nhau từ giản đơn đến phức tạp về hệ thống này. Trong đó, theo Báo cáo COSO năm 2013 kiểm soát nội bộ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Kiểm soát nội bộ là một quy trình đƣa ra bởi Ban quản trị doanh nghiệp, nhà quản lý và các nhân sự khác, đƣợc thiết kế để đƣa ra sự đảm bảo cho việc đạt đƣợc các mục tiêu hoạt động, báo cáo, tuân thủ”.