CHƯƠNG 1. TONG QUAN LY THUYET 1. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP VON-AMPE HÒA TAN ANOT Phương pháp von-ampe hòa tan (SV) được khởi nguồn từ sự phát triển thành công phương pháp cực phổ của nhà khoa học J. Đến thập niên 1960, ly thuyết về phương pháp SV trên điện cực giọt thủy ngân treo và màng thủy ngân bắt đầu phát triển.
Những năm sau đó, cùng với tiến bộ về công nghệ điện tử, phương pháp SV với kỹ thuật xung vi phân đã bắt đầu ứng dụng vào thực tiễn Trong thập niên 1980, với thiết bị máy vi tính và phần mềm điều khiển đã được thương mại hóa rộng rãi. Đến thập niên 1990, phương pháp von-ampe hòa tan anot xung vi phân (DP-ASV) và von-ampe hòa tan sóng vuông (SW-ASV) đã được một số quốc gia trên thế giới, chăng hạn như Mỹ (USA) xem là một trong những. phương pháp phân tích tiêu chuẩn để xác định một số kim loại như kẽm (Zn), eadimi (Cd) và chi (Pb) [11] ‘Tuy nhiên, tùy thuộc vào phương pháp SV và đối tượng phân tích mà nguyên tắc của phương pháp có khác nhau. Sau đây sẽ là những quy tắc chung của phương.
pháp von-ampe hda tan anot 1. Nguyên tắc Phương pháp von-ampe hòa tan anot (ASV) là một trong các phương pháp. von-ampe hỏa tan. Quá trình phân tích bao gồm 2 giai đoạn: giai đoạn làm giàu và.
giai đoạn hòa tan. Giai đoạn làm giàu: 'Bản chất của giai đoạn làm giàu là tập trung chất cằn phân tích trong dung dịch lên bề mặt điện cực làm việc (WE) ở một thế và thời gian xác định. Trong giai đoạn làm giàu, dung dịch được khuấy trộn đều bằng khuấy từ hoặc điện cực rắn quay. Quá trình tập trung chất cần phân tích lên bề mặt WE có thể bằng hai cách: ~ Điện phân làm giàu: cách này thường được sử dụng để xác định trực tiếp các.
kim loại như kẽm (Zn), cadimi (C4), chỉ (Pb), đồng (Cu) và asen (As),. với các 'WE khác nhau [37] 14 Khi đó phản ứng có thể xảy ra như sau + Với điện cực rắn đĩa: Me"* + ne => Me?/WE ay + Với điện cực giọt tủy ngân treo (HMED): Me"* + ne + Hg — Me°/WE (12) + Với điện cực màng thủy ngân (MFE); Me” +ne: + Hạ” +2e — Me"/WE. (13) ~ Hấp phụ làm giàu: cách này thường được sử dụng để xác định trực tiếp các hợp chất hữu cơ. Các hợp chất hữu cơ có thể hấp phụ trực tiếp hoặc có thể tạo phức.
với ion kim loại rồi hấp phụ lên bề mặt WE [15]. Phản ứng trên điện cực có thể xảy. ra như sau: Ly => Lụ¿„ (A4) (14) Trong đó, L là chất hữu cơ và Ad là chất hấp phụ (Adsorptive) Hole: Me" + L => MeL" -> MeL*(Ad) (15) Sau giai đoạn này, thế trên WE được giữ nguyên nhưng ngừng khuấy hoặc ngừng quay điện cực trong khoảng từ 2s đến 30s đẻ chất phân tích được phân bố. trên bề mặt điện cực làm việc.
Giai đoạn hòa tan: Giai đoạn hòa tan là hòa tan chất phân tích ra khỏi bề mặt WE bằng cách quét thế về phía dương hơn (gọi là quét anot). Trong giai đoạn này, thường không khuấy. dung dich phân tích, quá trình xây ra trên điện cực là ngược với giai đoạn làm giàu. Chẳng hạn với điện cực HMDE [15] Me’ /Hg — Me" + ne” + Hg (1.6) Hoặc ứng với giai đoạn hấp phụ làm giàu [15] L s2 (Ad) => L, + ne (7) MeL" (Ad) > M + ne (8) Đồng thời với quá trình quét thế anot, tiến hành ghỉ tín hiệu hòa tan bằng một.
kỹ thuật von-ampe nào đó. Nếu sử dụng kỹ thuật xung vi phân thì gọi là phương. 15 pháp DP-ASV, còn nếu dùng kỹ thuật sóng vuông thì gọi là SW-ASV đối với việc xác định kim loại. Riêng đối với quá trình làm giàu là hấp phụ thì được gọi là von- ampe hòa tan anot hấp phụ xung vi phân (DP-AdASV) hoặc sóng vuông (SW- AdASV) “Trong phương pháp ASV, để chọn thế điện phân làm giàu (E„.), người ta dựa vào phương trình Nernst hoặc một cách gần đúng có thể dựa vào giá trị thế bán sóng.
(E,;) trên sóng cực phổ của chất phân tích. Đường von-ampe hòa tan thu được có dang dinh (peak). Thế đỉnh hòa tan (E„ hay U,) và độ lớn của dòng đỉnh hòa tan (I,) phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thành phan nén (chat din ly nén, pH, chat tạo phức,.), bản chất của điện cực làm việc, thế điện phân và thời gian điện phân, điều kiện thủy động học (sự khuấy trộn hoặc quay điện cực.) trong giai đoạn làm giàu; tốc độ quét thế trong giai đoạn hòa tan,. Trong đó, E; dùng đề định tính và I; dùng đề định lượng chất phân tích.
Các kỹ thuật ghỉ đường von-ampe hoa tan anot Trong phương pháp ASV, dé ghỉ đường von-ampe hòa tan, người ta có thể dùng các kỹ thuật khác nhau như von-ampe xoay chiều (AC), von-ampe xung vi phan (DP), von-ampe sóng vuông (SW), Dưới đây sẽ giới thiệu nguyên tắc của hai kỹ thuật von-ampe được dùng phổ. biến trong phương pháp ASV là DP và SW [37] a. Kỹ thuật von-ampe xung vi phân 'Kỹ thuật von-ampe xung vi phân (DP) được dùng phô biến nhất đề ghi đường von-ampe hòa tan. Theo kỹ thuật này, những thế xung có biên độ khác nhau khoảng từ 10 đến 100 mV và bể rộng xung không đồi trong khoảng từ 30 đến 100 ms được đặt chồng lên mỗi bước thể (xem Hình 1.1) Dòng được đo hai lần: trước khi nạp xung (I,) và trước khi ngắt xung (l;), khoảng thời gian đo dòng thông thường là từ 10 đến 30 ms.
Ding thu được là hiệu của hai giá trị dòng đó (1, = 1) — I; ) và I„ ghỉ được là hàm của thể đặt lên điện cực. Khi xung thế được áp vào, dòng tổng cộng trong hệ sẽ tăng lên do sự tăng. Dòng tụ điện giảm nhanh hơn nhiều so với dòng Faraday vì: 16 I~ teh vay ~ oe (9) Ở đây,t: thời gian, R : điện trở, C* : điện dung vi phan của lớp kép. Trong đó: - Uạ„m (mV): biên độ xung; = Uney (mV): bước thể, = tyutse (ms): bé rộng xung; = Usan (mV): thé dau; ~ tạœ (s): thời gian mỗi bước thé; = I, (WA): dong dinh hoa tan; = tineans (ms): thời gian đo dòng; - U, (mV): thé đỉnh hòa tan.
Kỹ thuật von-ampe sóng vuông. Theo kỹ thuật này, những xung sóng vuông đối xứng có biên độ nhỏ và không đổi (khoảng 50/n mV) được đặt chồng lên mỗi bước thể (xem Hình 1. “Trong mỗi chu kỳ xung, dòng được đo ở 2 thời điểm: thời điểm 1 (dòng dương l,) và thời điểm 2 (dong âm I;). Dòng thu được là hiệu của hai giá trị dòng đó (I, = -1) va I, ghi duoc là hàm của thể đặt lên điện cực làm việc.
Theo cách ghỉ dòng như vậy, kỹ thuật này loại trừ được tối đa ảnh hưởng của dòng tụ điện. Trong một số trường hợp, kỹ thuật von-ampe sóng vuông có độ nhạy cao hơn so với kỹ thuật von-ampe xung vi phân, nhưng LOD tương đương nhau. Sự biến thiên thế theo thời gian (a) và đường von-ampe hòa tan trong phương pháp SW-ASV (b) Trong đó : - U„„¡ (mV): biên độ sóng vuông; _ - U„„ (mV): bước thé; ~ t„sa„ (ms): bề rộng sóng vuông; — - U„„x (mV): thế đầu; ~ tap (8): thoi gian mỗi bước thế; ~ l (0A): dòng đỉnh hòa tan; ~ se» (ms): thời gian do dong; =U, (mV): thé dinh hoa tan 1. Điện cực sử dụng trong phương pháp von-ampe hoà tan Để tiến hành phân tích bằng phương pháp von-ampe hòa tan nói chung va von-ampe hòa tan anot nói riêng, người ta dùng hệ thiết bị gồm một máy cực phổ và.
một bình điện phân gồm 3 điện cực: ~ Điện cực so sánh (RE): thường là điện cực calomen hoặc bạc clorua. Thế điện cực không đổi và phải duy trì trong suốt quá trình làm việc. - Điện cực phụ trợ (AE) hay điện cực đối (CE): thường dùng là một điện cực. ~ Điện cực làm việc (WE): thường dùng các loại điện cực như điện cực đĩa quay.
bằng kim loại hoặc vật liệu nền là cacbon, điện cực giọt thủy ngân tĩnh (SMDE), điện cực giọt thủy ngân treo (HMDE), điện cực mảng kim loại (MeEE) hoặc điện. cực biến tính, Điện cực biến tính là một loại điện cực được quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm gần đây, có thể được tạo ra theo các cách như s i) Điện cực biến tính được chế tạo bởi hạt nano kim loại [11], hay cacbon nano 18 [15] được thực hiện bằng cách gắn các hạt nano kim loại trực tiếp trên bề mặt điện ‘cue GCE, cacbon paste, hoặc chính điện cực kim loại đó. Điện cực biến tỉnh được chế tạo bằng phương pháp exsitu, điện phân dung dịch chứa Me”ˆ dạng nano (sử dụng phương pháp von-ampe vòng) đề gắn các hạt nano trên b mặt điện cực [8]. hay phủ trực tiếp bằng cách nhúng điện cực trong hệ keo nano kim loại hoặc nhỏ giot dung dich keo nano kim loại lên bề mặt điện cực [28],[34] ii) Mot iéu điện cực biến tính khác được nghiên cứu nhiều là điện cực nền được phủ lên b mặt một polime dẫn điện.
Loại điện cực này được đặc biệt chú ý trong các lĩnh vực cảm biến hóa học và cảm biến sinh học. Bởi vì chúng thể hiện nhiều lợi thể trong việc phát hiện một số chất phân tích do có độ nhạy, tính chọn lọc và tính đồng nhất của chúng trong giai đoạn điện phân làm giàu, kết bám mạnh lên. bề mặt điện cực và sự én định hóa học của những màng polime dẫn điện. polime này thường đóng vai trò là tác nhân oxy hóa để oxy hóa chất hữu cơ được làm giàu trên bề mặt điện cực.
Điện cực loại này được chế tạo đơn giản bằng cách nhỏ giọt dung dịch polyme (hoặc trộn với một chất kết dính) lên bề mặt điện cực 19].một số trường hợp tiến hành quét CV trong dung dịch chứa monome [41]. GIGI THIEU VE NAFION Nafion la polime sunfonat tetrafloroetylen có tính dẫn điện cao, trục chính của polime là liên kết polime floro.nafion được khám phá năm 1960 bởi Walther Grot 'Nafion là một polime tơ, không, tính điện hoạt, không tan trong nước nhưng tan trong rượu và đặc biệt có khả năng trao đổi cation. for,-cr, Her-er,L x | y ° CF; FCFI O-CF,-CF,-SO;H* Hình 1. Công thức cấu tạo của Nafion 19 Nafion cé tinh ion (ionomers), cuối chuỗi tetrafloroetylen là một nhóm HSO,ˆ (axit sunfonic).
Nhóm này dễ cho phép nafion dễ dàng tạo màng polime bền và có tính chọn lọc cao. Nafion được phối trộn với C;H,OHI, dùng làm dung môi phân tán vật liệu. Khi phủ nafion lên bề mặt điện cực nền hình thành các khe hẹp như những mao quản. Vật liệu được dùng.
n tính sẽ bám lên bề mặt điện cực ở các khe hẹp đó như.