CHƯƠNG 1: TONG QUAN LÝ THUYẾT 1. Giới thiệu về công nghệ nano. Khi ệm và nguồn gốc của công nghệ nano. Công nghệ nano là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanômét (nm, 1 nm = 10” m).
Ở kích thước nano, vật liệu sẽ có những tính năng đặc biệt mà vật liệu truyền thống không có được đó là do sự. thủ nhỏ kích thước và việc tăng điện tích mặt ngoài [22] Ý tưởng cơ bản về công nghệ nano được đưa ra bởi nhà vật lý học người Mỹ Richard Feynman vào năm 1959, ông cho rằng khoa học đã đi vào chiều sâu của cấu trúc vật chất đến từng phân tử, nguyên tử vào sâu hơn nữa. Nhưng thuật ngữ “công nghệ nano” mới bắt đầu được sử dụng vào năm 1974 do Nario Taniguchi một nhà nghiên cứu tại trường đại học Tokyo sử dụng để để cập khả năng chế tạo cấu. trúc vi hinh của mạch vi điện tử, mặc dù nó vẫn chưa biết rộng rãi.
Dựa trên tiền đề đó tiến sĩ K. Erie Drexler khai thác sâu hơn trong cuốn sách “Engines of Creation”` và cuốn “Nanosystems”.Từ đây, thuật ngữ công nghệ nano bắt đầu trở nên phổ biến, hàng loạt phát minh đã ra đời, phục vụ đắc lực cho cuộc sống. Cơ sở khoa học của công nghệ nano Công nghệ nano chủ yếu dựa dựa trên ba cơ sở khoa học sau: > Chuyển tiếp từ tính chất cỗ điển đến tính chất lượng tử: Đối với vật liệu vĩ mô gồm rất nhiều nguyên tử, các hiệu ứng lượng tử được. trung bình hóa với rất nhiều nguyên tử (1 umÌcó khoảng 10!Ê nguyên tử) và có thể 'bỏ qua các thăng giáng ngẫu nhiên.
Nhưng các cấu trúc nano có ít nguyên tử hơn thì các tính cl lượng tử thể hiện rõ ràng hơn. Ví dụ một chấm lượng tử có thể được. coi như một đại nguyên tử, nó có các mức năng lượng giống như một nguyên tử > Hiệu ứng bề mặt Khi vật liệu có kích thước nhỏ thì tỷ số nguyên tử trên bề mặt và tổng số nguyên tử của vật liệu gia tăng, Ví dụ xét vật liệu tạo thành từ các hạt nano hình cầu. Nếu gọi ns là số nguyên tử nằm trên bể mặt, n là tổng số nguyên tử thì mối liên hệ giữa hai con số trên sẽ là n, = 4n”Ÿ.
Tỷ số giữa số nguyên tử trên bề mặt va tông, " số nguyên tử sẽ là f= nựn = 4/n'? = 4r’/r, trong đó r° là bán kính của nguyên tử và r là bán kính của hạt nano. Như vậy, nếu kích thước của vật liệu giảm (r giảm) thì tỷ số f tăng lên. Do nguyên tử trên bề mặt có nhiều tính chất khác biệt so với tính chất của các nguyên tử ở bên trong lòng vật liệu nên khi kích thước vật liệu giảm đi thì hiệu ứng có liên quan đến các nguyên tử bề mặt, hay còn gọi là hiệu ứng bề mặt tăng lên do tỷ số f tăng. Khi kích thước của vật liệu giảm đến nm thì giá trị f này.
tăng lên đáng kể. Sự thay đổi về tính chất có liên quan đến hiệu ứng bể mặt không. có tinh đột biến theo sự thay đổi về kích thước vi f tỷ lệ nghịch với r theo một hàm liên tụe [1] > Kích thước tới hạn Các tính chất vật lý, hóa học của các vật liệu đều có một giới hạn về kích thước. Nếu vật liệu mà nhô hơn kích thước này thì tính chất của nó hoàn toàn bị thay đổi, người ta gọi đó là kích thước tới hạn.
Vật liệu nano có tính chất đặc biệt là do kích thước của nó có thẻ so sánh được với kích thước tới hạn của các tính chất của vật liệu [23]. Ví dụ điện trở của một kim loại tuân theo định luật ohm ở kích thước vĩ mô mà ta thấy hàng ngày. Nếu ta giảm kích thước của vật liệu xuống nhỏ. hơn quảng đường tự do trung bình của điện tử trong kim loại, mà thường có giá trị từ vài đến vải trăm nm, thì định luật Ohm không còn đúng nữa.
Lúc đó điện trở của vật có kích thước nano sẽ tuân theo các quy tắc lượng tử, không phải bắt cứ vật liệu. nào có kích thước nano đều có tính chất khác biệt mà nó phụ thuộc vào tính chat ma nó được nghiên cứu. Các tính chất khác như tính chất điện, tinh chat tir, tinh chất quang và các tinh chất hóa học khác đều có độ dài tới hạn trong khoảng nm. Chính vì thế mà người ta soi ngành khoa học và công nghệ liên quan là khoa học nano và công nghệ nano 1.
Vật liệu nano Vat liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano. một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm, để có một con số để hình dung, nếu ta có một quả cầu có bán kính bằng quả bóng bàn thì thể tích đó đủ để làm ra rất nhiều 12 hạt nano có kích thước 10 nm, nếu ta xếp các hạt đó thành một hàng dài kế nhau thì độ dài của chúng bằng một ngàn lẳn chu vi của trái dat. Tính chất vật liệu nano “Tính chất đặc biệt, thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước của chúng rất nhỏ bé có thể so sánh với các kích thước tới hạn của nhiều tính chất hóa lý của.
Chi là vấn đề kích thước thôi thì không có gì đáng nói, điểu đáng nói là kích thước của vật liệu nano đủ nhỏ để có thể so sánh với các kích thước tới hạn của. một số tính chất. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính. chất khối của vật liệu, đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ.
so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất khác lạ bắt đầu từ nguyên nhân này. Ở kích thước nano, các hạt kim loại thể hiện tính chất đặc biệt so với trạng thái vật liệu khối như: tính kháng khuẩn, cảm biến sinh học, tính dẫn nhiệt, dẫn điện. Chính vì vậy, việc tông hợp được hạt nano kim loại đem lại nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như: y sinh, phân tích, điện tử, hóa học, môi trường và công nghệ sinh học. Phân loại vật liệu nano.
Có rất nhiều cách phân loại vật liệu nano, mỗi cách phân loại cho ra rất nhiều. loại nhỏ nên thường hay làm lẫn lộn các khác niệm. Sau đây là một vài cách phân loại thường dùng 1. Phân loại theo hình dáng của vật liệu Người ta đặt tên số chiều không gian bị giới hạn ở kích thước nano.
~ Vật liệu nano không chiều (cả ba chiều đều có kích thước nano). Ví dụ: đám nano, hạt nano. ~ Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano. Ví dụ: dây nano, ống nano.
~Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano. Ví dụ: màng mỏng. ~ Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ một phần của vật liệu có kích thước nm, hoặc cấu trúc của nó có nano không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau. B Cũng theo cách phân loại theo hình dáng của vật liệu, một số người đặt tên số.
chiều bị giới hạn ở kích thước nano. Nếu như thế thì hạt nano là vật liệu nano ba. chiều, đây nano là vật liệu nano hai chiều và màng mỏng là vật liệu nano một chiều., cách này ít ph biến hơn cách ban đầu. Phân loại theo tính chất vật “Thể hiện sự khác biệt ở kích thước nano + Vat ligu nano kim loại Vat liệu nano bán dẫn ~_ Vật liệu nano từ tính ~ _ Vật liệu nano sinh học Nhiều khi người ta phối hợp hai cách phân loại với nhau, hoặc phối hợp hai khái niệm nhỏ đề tạo ra các khái niệm mới.
Ứng dụng của vật liệu nano. Công nghệ Nano ra đời đã tạo nên bước phát triển nhảy vọt cho ngành công nghiệp, nông nghiệp, y tế, hàng tiêu dùng, thực phẩm. Hơn nữa, khoa học nano là một trong những biên giới của khoa học chưa được thám hiểm tường tận và nó hứa hẹn nhiều phát minh kỹ thuật lý thú nhất 1. Y học Y hoe - Y tế là một trong những ứng dụng lớn nhất của công nghệ nano.
~ Trong việc điều trị bệnh ung thư: Nhiều phương pháp điều trị khác nhau đã được thử nghiệm để có thể hạn chế các khối u phát triển và tiêu diệt chúng ở cấp độ tế bào. Nghiên cứu sử dụng các hạt nano vàng để chống lại nhiều loại ung thư đã cho kết qua rat khả quan. Các hạt nano này sẽ được đưa đến các khối u bên trong cơ. thể và được tăng nhiệt độ bằng tia laser hồng ngoại chiếu từ bên ngoài để có thể tiêu.
- Không chỉ dừng lại ở đó, các nhà khoa học còn nghiên cứu một dự án nanorobot vô cùng đặc biệt. Với những chú robot có kích thước siêu nhỏ có thể đi vào bên trong cơ thể con người để đưa thuốc điều trị đến những bộ phận cần thiết. 'Việc cung cấp thuốc một cách trực tiếp như vậy sẽ làm tăng khả năng cũng như. hiệu quả 4 Trong tương lai không xa, công nghệ Nano sẽ giúp con người chống lại căn bênh ung thư quái ác, bao gồm cả căn bênh ung thư khó chữa nhất như ung thư não, các bác sĩ sẽ có thẻ đễ dàng điều trị mà không cần mở hộp sọ của bệnh nhân hay bắt kỳ phương pháp hóa trị độc hại nào.
Trong sinh học Vat liệu nano có kha năng ứng dụng trong sinh học vì kích thước nano so sánh được với kích thước của tế bảo (10-400 nm), virus (20-450 nm), protein (S-S0nm), gen (2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài) [22]. Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc ngụy trang giống như các thực thể sinh học khác và có thể xâm nhập vào các tế bảo virus. Trong điện tử Công nghệ nano cũng được ứng dụng rộng rãi trong ngành điện tử, những bộ vi xử lý được làm từ vật liệu nano khá phổ biến trên thị trường, một số sản phẩm như bàn phím, chuột cũng được phủ một lớp nano kháng khuẩn. Pin nano trong tương lai sẽ có cấu tạo theo kiểu ống nanowhiskers, khiến các.
cực của pin có diện tích bề mặt lớn hơn rất nhiều lần, từ đó giúp nó lưu trữ được nhiều điện năng hơn trong khi kích thước của pin sẽ ngày cảng được thu nhỏ lại 1.