Chương I TONG QUAN VE LY THUYET 1. Khái quát về gốm sứ [1], [6], [17] Danh từ gốm dùng để chỉ chung những sản phẩm mà nguyên liệu để sản xuất chúng gồm một phần hoặc tất cả là đất sét hoặc kaolin như đỏ đắt nung, gạch ngói, chum vại và đồ sứ. "Ngày nay danh từ gốm sứ dịch từ chữ ceramic được mở rộng hơn nhiều, sản phẩm gốm sứ chẳng những bao gồm các loại sản xuất từ đất sét, kaolin mà còn bao. gồm các loại sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu không thuộc silicat như titanat, pherit, cermet.Như vậy đồ gốm là những sản phẩm được tạo hình từ nguyên liệu.
dạng bột, khi nung ở nhiệt độ cao, chúng kết khối, rắn như đá và cho nhiều đặc tính quý: cường độ cơ học cao, bền nhiệt, bền hoá, bền điện. Một số loại gồm kỹ thuật còn có các tính chất đặc biệt như tính áp điện, tính bán dẫn hoặc có độ cứng đặc biệt (ngang kim cương). Điều kiện ở đây là nguyên liệu, dạng bột khi nung không bị phá huỷ. Để sản xuất gốm sứ có được các thuộc tính quý giá như trên thì công nghệ sản.
xuất chúng cũng ngày một phức tạp và hiện đại hơn. Với thuộc tính nêu trên, sản phẩm gốm sứ được dùng hầu khắp trong các lĩnh vực từ dân dụng đến các ngành công nghiệp hiện đại bao gồm kỹ thuật điện, vô tuyến điện tử, truyền tin và truyền. hình, tự động hoá và kỹ thuật điều khiển, du hành và chỉnh phục vũ trụ.1 Vật liệu gốm sứ [6]. [16] Đặc tính chung của vật liệu gốm là có độ cao, bền nhiệt, bền với môi trường nhưng giòn, dễ vỡ và dễ bị rạn nứt khi có lực tác dụng.
Vật liệu có thể được phân chia thành hai loại: gốm truyền thống và gốm kỹ thuật 1. Gốm truyền thống [ I6] Gốm truyền thống có thành phần chủ yếu là silicat, aluminat. Quá trình sản xuất gốm truyền thống thường có một phương pháp chung là trộn phối liệu thật kỹ rồi tạo hình và nung thiêu kết. Với các loại gốm xây dựng, gốm sinh hoạt và đặc biệt là gốm mỹ nghệ thường còn thêm giai đoạn tráng men và trang trí màu.
Gốm kỹ thuật [16] Sự phát triển rất nhanh của các ngành khoa học và công nghệ mới như điện tử, vô tuyến, kỹ thuật bán dẫn. đòi hỏi phải có một loại vật liệu có cấu trúc và tính chất đặc biệt đó là gốm kỹ thuật. Gốm kỹ thuật là hỗn hợp các oxit nguyên chất của các nguyên tổ đất hiếm, ferit, zirconat, cacbua của các kim loại khác. Khái quát về chất cho gốm sir 12.
Màu n chất màu sắc của khoáng vật [5], [15], [24] 'Về bản chất, chất màu cho gốm sứ là những khoáng vật tự nhiên hay nhân tạo có màu, có khả năng bền màu dưới tác động của nhiệt độ cao hay với tác nhân hóa học. Trong tự nhiên cũng tồn tai rat nhiều khoáng vật có màu như các oxit hoặc muối kim loại chuyển tiếp, đất hiếm, các khoáng vật có màu khác (opan, canxit, augite,. Màu sắc mà khoáng vật có được là do chúng có khả năng hắp thụ ánh sáng. một cách có chọn lọc.
Nếu khoáng vật hắp thụ toàn bộ ánh sáng trắng chiếu vào thì nó có màu đen, còn nếu phản xạ tất cả thì có màu trắng. Khi nó hấp thụ các tia sáng. nảo đó trong chùm ánh sáng trắng thì chùm tia ló sẽ có mảu. Màu tia bị hấp thụ và màu tia ló trong vùng khả kiến.
Bue song cia dai hap thu | Mạu ga bị hắp thụ Màu tỉa lồ (nm) <400 Tía tử ngoại Không màu 400 ~435 Tim Lục - vàng 435 — 480 Lam Vang 480 — 490 Lam — lục nhạt Cam 490 ~ 500 Lục ~ lam nhạt Đồ 500 -560 Lue Dé tia S60 - S80 Lục - vàng Tim 580 - 595 Lam 595 - 605 Lam — lục nhạt 605 - 750 Lục — lam nhạt > 750 Tia hong ngoai Không màu. Nguyên nhân gây màu của khoáng vật [12], [15], [18] 'Với các khoáng vật, màu sắc mà chúng có được là kết quả của việc hấp thụ 10 chon lọc các tia sáng có bước sóng xác định. Điều này được giải thích bởi trạng thái tồn tại và sự chuyển dịch của điện tử trong phân tử chất màu. Các quá trình chuyển dịch điện tử dẫn đến sự hắp thụ bức xạ điện tử bao gồm: sự chuyên mức năng lượng, của electron bên trong nguyên tử hoặc ion kim loại chuyển tiếp, sự chuyển electron.
giữa các nguyên tố trong cùng một cấu trúc tỉnh thí sự chuyển điện tử do khuyết tật én trong cau tric tinh thé, sự chuyển mức giữa các dải năng lượng. Sự chuyển electron nội “Trong ion nguyên tố gây màu có chứa các electron thuộc phân lớp d va f. Bình thường các electron này chuyển động trên những obitan có năng lượng xác định (gọi là trạng thái cơ bản), Nhưng khi có ánh sáng chiếu vào, các electron này. sẽ hấp thụ năng lượng thích hợp (AE = 25000 + 14000 cm”) ứng với một tia nào đó.
trong chùm ánh sáng chiếu vào để chuyển lên obitan có mức năng lượng cao hơn (gọi là trạng thái kích thích) làm cho ánh sáng truyền qua có màu. Khoáng vật có màu do sự chuyển mức năng lượng của các electron thuộc phân lớp 3d thường xảy ra trong các ion kim loại chuyển tiếp như TIỶ, MnŸ", Cr”, Fe, Ee*,. Còn với các nguyên tố họ lantanoit màu được tạo ra thông qua sự chuyển. mức năng lượng của các electron 4f như các khoáng: monazit, xenotim, gadolinit, 1.
Sự chuyển electron giữa các nguyên tố trong cùng một tỉnh thể Sự chuyển electron xảy ra khi các electron dịch chuyển giữa các ion nằm trong một cấu trúc tinh thể. Sự chuyển điện tích có thể diễn ra từ kim loại sang phối tử, từ phối tử sang kim loại hoặc từ kim loại sang kim loại. VỀ cơ bản, quá trình này được kích hoạt bởi các tia cực tím có năng lượng cao, nhưng do các hấp thụ có thể xuất hiện trong vùng khả kiến làm cho ánhh ng truyền qua có màu. Sự chuyển điện tích diễn ra thuận lợi khi các nguyên tố cạnh nhau trong cùng một cấu trúc.
tỉnh thể có khả năng tồ tại ở nhiều mức oxi hóa khác nhau như: Fe va Fe™*, Mn”* và MnŸ, Ti” và TÍ”. Sự chuyển điện tích cũng diễn ra dễ dàng khi có sự mắt cân. bằng về điện tích do sự thay thế đồng hình, chẳng hạn như sự thay thể ion Fe” và Mỹ?" bởi ion AI” và Fe`". Sự chuyển điện tích này xảy ra ứng với những kích thích năng lượng nhỏ (ánh sáng kích thích trong vùng khả kiến) và tạo ra mảu trong các khoáng vật Một số khoáng vật có màu do sự chuyển điện tích gồm: augite, biotit, cordierit, glaucophan và các khoáng amphibol Một số hợp chất ion là chất màu, màu của chúng được gây nên bởi sự chuyển.
dịch điện tích.2 sau đây trình bày sự chuyển điện tích giữa các ion của các chất màu đó. Sự chuyển dời các electron giữa các obitan [10] Chất màu. Sự chuyên dịch điện tích Cac obitan tham gia. ‘Vang catmi CdS Cd, S* > CdS S,p, > Cd, 5s Xinaba (thn sa) HgS Hẹ”,S” > Hig S Sip, > Hg, 6s Auipmen ASS; hay], " AS™,S™ > As, S| Spe => As 4shay4p xeanga (hùng hoàng) As/S; 'Vàng Naple Pb;(SbO,); Sb”,O” ->Sb”,O |O,p; > Sb, Ss hay Sp Maxicot PbO Pb", 0” > Pb’, O O.p, > Pb, 6s 'Vàng crom PbCrOs Cr”,0” > Cr, 0 O,p, > Cr3d Oxit sắt d6 va oxit sit ving O,pe => Fe3d Fe,O; 1.
Sự chuyển electron do khuyết tật trong mạng lưới tỉnh thể 'Về mặt nhiệt động học mà nói sự hình thành khuyết tat ở một mức độ nào đó là thuận lợi về mặt năng lượng. Trong mạng lưới tinh thể của các khoáng thường, chứa các khuyết tật mạng, chính các khuyết tật này có khả năng hấp thụ ánh sáng. tạo ra các tâm màu. Có hai loại tâm màu phỏ biến: tâm F - electron chiếm các lỗ trống, tâm F” - electron chiếm các hốc mạng.
Sự chuyển mức năng lượng liên quan tới việc chuyển electron ở trong các nút mạng và các hốc xuất hiện khá phổ biến trong tự nhiên, Một khoáng vật có màu do khuyết tật trong mạng tỉnh thể hay gặp là: halit, florit, canxit,. ‘Cac khoáng vật tạo mảu trong tự nhiên thường có hàm lượng không cao, lẫn nhiều tạp chất, thành phần khoáng không ổn định không đáp ứng cho việc sử dụng. làm chất màu gốm sứ. Ngày nay, chất màu cho gốm sứ phải vừa đáp ứng yêu cầu trang trí, vừa phải có thành phần ổn định, phải chống chịu tốt trước tác động của.
nhiệt độ cao cũng như các tác nhân hóa học. Từ những yêu cầu khắc khe đó ma hau hết chất màu cho gồm sứ đều phải được điều chế bằng con đường nhân tạo. Một số tiêu chuẩn để đánh giá chất màu tổng hợp cho gốm sứ [7]. 5] Chất màu cho gốm sứ thường được đánh giá theo các tiêu chuân như sau: ~ Gam màu hay sắc thái màu: là tính đơn màu của màu sắc như xanh, đó, vàng,.
Nó có thể được xác định dễ dàng bằng trực quan. ~ Tông màu: là sự biến đổi xung quanh một đơn màu, ví dụ màu xanh gồm xanh lục, xanh đương, xanh chàm, ~ Cường độ màu: là khả năng phát màu hay sự thuần khiết của đơn màu, nó. phụ thuộc vào hàm lượng của chất màu. ~ Độ bền màu: là khả năng chống chịu của chất màu trước tác động của nhiệt độ, tác nhân hóa học thẻ hiện trên một hệ gốm sứ nào đó.
Độ bền màu được so sánh. bằng cách nung mẫu ở hai nhiệt độ cách nhau từ 30°C đến 50C. ~ Độ phân tán (độ đồng đều): là khả năng phân bố của hạt chất màu trên bề mặt của sản phẩm gốm sứ. Nó góp phần rất lớn quyết định tính thẩm mỹ của sản.
Kích thước của hạt màu là yếu tố quyết định tính chất này, chất màu cho gồm. sứ thường có kích thước nhỏ hơn 50um. Cơ sỡ hóa lý về tông hợp chất màu cho gốm sứ [7], [1S], [19] Chất màu cho gốm sứ thường là chất màu tổng hợp nhân tạo. Chúng được.
tổng hợp dựa trên cơ sở của việc đưa các ion kim loại chuyển tiếp hoặc đắt hiếm. (ion gây màu) vào mạng lưới tinh thể của một chất làm nền. Việc đưa ion gây màu. vào mạng lưới tỉnh thể nền được thực hiện bằng phản ứng pha rắn giữa các oxit hoặc các muối.
lon gây màu trong tinh thể nền ở dạng dung dịch rắn xâm nhập, dung dịch. rắn thay thế hoặc tôn tai 6 dang tạp chất. Do đó, cấu trúc của chất màu là không hoàn chỉnh, các thông số mạng lưới tỉnh thể bị sai lệch,. Cấu trúc lớp vỏ điện tử của nguyên tố gây màu bị biến dạng.