CHƯƠNG 1: TONG QUAN LY THUYET 1.1, TONG QUAN VE VAT LIEU MOF LL1 Giớithiệu Trong nhiều thập ki qua các nghiên cứu đã chỉ ra, vật liệu xốp được ứng dụng rộng. rãi trong quá trình lưu giữ khí, hấp phụ, tách, xúc tác, dự trữ và phân phối thuốc và làm khuôn để chế tạo các loại vật liệu thấp chiều. Các vật liệu xốp truyền thống thường được. nghiên cứu hoặc là vô cơ hoặc là hữu cơ.
Trong đó, vật liệu hữu cơ xốp phổ biển là các bon hoạt tính, chúng có điện tích bề mặt lớn và khả năng hấp thụ cao, tuy nhiên chúng lại không có cấu trúc trật tự. Trong khi đó, các vật liệu vô cơ xốp lại có cấu trúc trật tự cao. (như zeolites), nhưng khung của chúng lại dễ dàng bị sụp đổ và không da dạng. Vì vậy, cết hợp các tính chất tốt của vật liệu xốp hữu cơ và vô cơ, vật liệu lai vô cơ và hữu cơ được hình thành và được biết đến là vật liệu khung cơ kim (MOF = metal organic framework).
MOF là vật liệu có độ xốp cao được tạo thành khi các ligand carboxylat hữu. cơ gắn kết với các cluster kim loại dé tạo ra cấu trúc khung không gian ba chiều với những lỗ xốp có kích thước ổn định. Cấu trúc khung của vật liệu có độ ổn định cao nhờ độ bền của liên kết kim loại - oxy. Các khung này giữ nguyên cấu trúc ngay cả khi các phân tử dung môi nằm trong các lỗ xốp bị giải hấp ra ngoài.
_ Như vậy, đây là một loại vật liệu mới, với nhiều đặc tính hấp dẫn như: diện tích bề mặt riêng lớn, bền, khả năng. hấp phụ lớn và có cu trúc trật tự cao. 39] 'Việc nghiên cứu về MOF được bắt đầu từ cuối năm 1999 sau bài công bố của nhóm. Yaghi về cấu trúc MOF-5.
Đến nay, đã có nhiều loại MOF được nghiên cứu chế tạo trên cơ sở các kim loại chuyên tiế với các phố tử đa nhóm chức như các axit poly- carboxylic, poly-sunfonic. hình thành nên khung có cấu trúc khối đa diện kiểu lập phương (như MOF-5), kim cương (như CuBTC).Trong những năm gần đây, nghiên cứu về MOF trở thành hướng mới trong khoa học vật liệu với hai hướng chính: trong công nghệ năng lượng xanh, làm "bình chứa phân tử”, chứa hydro, metan và vật liệu làm sạch môi trường: bắt giữ C( tách lọc khí thải, dung môi. Trong lĩnh vực nano quang tử vật 16 liệu MOF có tính chất phát quang được tập trung nghiên cứu do khả năng ứng dụng rộng. ải trong công nghệ hiển thị display, tạo hình imaging.
Vi vậy trong hơn chục năm vừa qua số lượng các nghiên cứu liên quan đến loại vật liệu này không ngừng tăng nhanh thể hiện qua số công bố hàng năm hiện nay 4000-5000 báo cáo/năm. Cấu trúc vật liệu MO. Vật liệu khung cơ kim là các polyme tỉnh thể hình thành do liên kết phối trí được. xây dựng từ các mối liên kết của phối tử hữu cơ (cầu nối ligand) và các nút vô cơ của các ion kim loại hoặc cụm (Cluster) các ion kim loại, chúng được gọi là đơn vị xây dựng thứ cấp (Secondary Building Units -SBU) được trình by trong hình 1.1 ‘Cluster building block + Organic Link + MOFs Inorganic Units SBUs OrganicUnits sBus Hình 1.
Vi dy SBUs cia MOFs cacboxylat.4-dicarboxyiate, _ 2-methyk trơneceate, BTC terepntnelzto.BOC wnldazolee, Hình 1.2: Ví dụ về sự kết hợp của ion kim loại với ligand hữu cơ khác nhau. Đơn vị cấu trúc cơ bản SBUS Đơn vị cấu trúc thứ cấp viết tắt là SBU là những phân tử phức chất và sự tụ hợp lại của những thực thể này, trong đó những kiểu kết hợp của ligand và kim loại có thể được sử dụng để kết hợp các phân tử nảy thành một mạng lưới xốp bằng cách sử dụng nhiều. kiểu liên kết (1,4-benzenedicarboxylate, 1,3,5,7 adamantanetetracarboxylate. Xem xét các thuộc.
tính về hình học và hóa học của các SBU, có thể dự đoán mạng lưới hình học và có thể hành thỉ `, tổng hợp một loại vật liệu xốp mới có trật tự và độ xốp cao [31]. Cấu trúc bộ khung của vật liệu MOFs được vững chắc hơn nhờ các cầu nỗi carboxylate, do khả năng những cầu nối này có thể khóa các cation kim loại - oxy — cacbon với những điểm mở rộng (nguyên tử carbon trong nhóm carboxylate) xác định hình dạng hình học cho những đơn vị cầu trúc cơ bản SBUS. 18 Nhóm tác giả Michael O'Keeffe, Omar M. Yaghi mô tả hình học của 131 SBU, thành phần và liên kết của chúng.
Trong khối SBUs kim loại - oxy đa diện là xanh. dương, khối đa diện xác định bằng nguyên tử cacbon màu đỏ. Trong khối SBUs đa diện hữu cơ, mỗi cầu nối là mỗi đơn vị C,H, màu xanh lục. Các cấu trúc hình học này là một ‘SBUs bao gom 4 SBUs — tam giác màu xanh lá cây, các đơn vị carboxylate này là một đỉnh của lăng trụ tam giác.
Sau đây là một số SBU điễn hình [10] Sve SBUs Cie dang clu trie am site | (triangle) 0-46 ah Cot n-xanh, C-den, Ala Co-xanh, C-den, Fe-da. diện vàng, C- 0-48, $-ving den, 0-46, S-vàng “wv. BAe Lãng trụ tam. 1c | Kim loai (Fe, Cr, Kim loại (W, Nb,.
Ì Mo-hồng, C-đen, O-đỏ, (8E ) Ru, Mn, V, Ni Moy-xém, C-ten, | Breniu, prism I sc,.)cam,C-den, |O-đô P-xám 0ó uo +. 4 * — Ñ ba lặ a Bat dign (octahedra) | Kim logi (Zn, Co, _| Kimloat(Er, Yb, | Bey-xanh, Cáen, - | N:CđemOđổ Ínta Gan o4 0-46 'Cuboctahedr. on Ni-xanh, C-đen, x8 Kim loại (Fe, V)- 0-46 vàng, C-den, 0-46 Hình 1.3: Một s6 SBU Các MOFs được tạo nên từ các SBU khác nhau sẽ có hình dạng và cấu trúc khác nhau. Bên cạnh đó điều kiện tổng hợp như dung môi, nhiệt độ, igand cũng ảnh hưởng tới cấu trúc hình học của MOEs.
Ví dụ như MOF-5 có dạng hình khối được tạo nên từ Zn,O' liên kết với BDC (hình 1.5), MOF-199 được tạo nên từ Cua(CO;), hình bát diện liên kết với BTC có vi tri kim loại mở OM (hình 1. Do đó người ta có thể dựa vào dang hình học của các SBU để dự đoán được dạng hình học của cấu trúc MOFS tạo thành. rot € BA, -© x ur Ker eee co Hình 1. Thể hiện sự kết hợp của các SBU với những liên kết hữu cơ để tạo MOFs IỊ- 20 *Tộ.
Go 1380ensenercseonyeke Cuy(CO,), mẽ mm.5: Minh họa sự tạo thành MOF-5 (a) ,MOF-199 (b) 1. Phương hướng tỗng hợp khung xốp bền vững Để đánh giá tác động của SBU trên kích thước lỗ trống và độ xốp của các khung,chúng ta so sánh hai sự phát triển để tạo nên khung có độ xốp cao như sau: 4) Việc sử dụng các liên kết đài làm tăng khoảng cách giữa các đình trong một ô mạng số lỗ trống tỷ lệ thuận với chiều dài của mối liên kết. Điều này có nghĩa là một liên kết này được thay thế bằng một chuỗi các liên kết, quá trình này được gọi là việc mở. Mặc dù về nguyên tắc cơ bản việc mở rộng cấu trúc sẽ tạo cho lỗ trống lớn hơn, trong thực tế chúng thường được tìm thấy ở dạng cấu trúc đan xen cao và có độ xốp giảm.
(31) b) Ngược lại, sự thay thế một đỉnh của một khung mạng bằng một nhóm các đỉnh, quá trình này gọi là trang trí, kết quả trong các cấu trúc mở với độ bền cao và không có xu hướng đan xen vào nhau [31] 'Do đó cần có những phương pháp hợp lý để tao cho tinh thé MOFs két tinh mot cách đồng đều và có độ xốp tối đa. 21 phân từ phúc chất chất rẫn mở rộng a e+ODO fa neo ¬ khủng mở rộng +ửi b e 2) “Trang trí-mở rộng khung. Lắp ráp khung kim loại - hữu cơ (MOE) bởi sự đồng trùng hợp của các ion kim loại với những mối liên kết hữu cơ. Lắp ráp khung kim loại - hữu cơ (MOFs) bởi sự đồng trùng hợp của các ion kim loại với những mối liên kết hữu cơ để tạo ra (a) cấu trúc kim loại - bipyridine mém có dạng hình khối kim cương mở rộng và (b) kim loai - carboxylic cứng có thể được liên kết bởi thanh benzene để hình thành khung cứng được nối 2 đài.
Trong đó lõi M-O-C (SBU) của mỗi cụm như hình bát diện kết nối 6 đỉnh trong khối lập phương. Cấu trúc đã được rút ra bằng cách sử dụng dữ liệu đơn tỉnh thể nhiễu xạ X-quang.) [31] Khung MOFs kết chuỗi tạo tính đối xứng hình học cao, bằng cách xuyên sâu hoặc. cuộn vào nhau dẫn đến các khung bị chiếm chỗ từ các khung khác, kết quả dẫn đến giảm. đường kính lỗ xốp.
Sự đan xen vào nhau của 2 hay nhiều bộ khung là một trở ngại chính trong quá trình kiến tạo tỉnh thể rất xốp và làm giảm thể tích không gian bên trong. Sự trộn lẫn vào nhau của 2 hay nhiều bộ khung hình thành những lỗ xốp có kích thước nhỏ hơn, nhưng quá trình trộn lẫn làm gia có tính vững chắc của tỉnh thể [10], [11] (a) SBU, sự kết chuỗi xoắn 2 khung làm giảm kích thước lỗ xốp: b) xoắn vòng. (c) vách day hon, (d) giảm tiếp xúc gần giữa các khung.tạo kết chuỗi liên tục Hình 1.7: Sự kết chuỗi khung.8: Một số MOFs dạng chuỗi khác 2 1. Các phương pháp tổng hợp vat ligu MOF 1.
Sơ lược về cấu trúc vật liệu MOFS MOEs được cấu tạo từ hai thành phần chính: oxit kim loại và linkers hữu cơ. Những tính chất của linker đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành cấu trúc khung. Đồng thời, hình dạng của ion kim loại lại đóng vai trọng quyết định đến kết cấu của MOFS sau khi tổng hợp. lon kim loại và các oxit kim loại thường gặp là: Zn”, Co” Ni*, Cu", Ca”, Fe” Mg”, Al’*, Mn?.va oxit kim loại thường dùng là ZnO¿.
lon kim loại trung tâm hay oxit kim loại đóng vai trò như "trục bánh xe”. Các cầu nỗi hữu cơ trong vật liệu MOFs là các cầu nối hữu cơ, đóng vai trò như: là những "chân cl \g”. Một số hợp chất hữu cơ là dẫn xuất của axit cacboxylic thường dùng làm cầu nối trong tổng hợp vật liệu MOEs như: 1,4-benzendicacboxylic axit (BDC); 2,6-naphthalendicacboxylie axit (2,6-NDC); 1; -naphthalendicacboxylie axit (1,4-NDC); 13,5-benzentricacboxylic axit (BTC); 2-aminoterephthalic axit (NH-BDC); 4, Bipyridin (4,4`-BPY), 1,4-benzenedicarboxylate 1,4-azodibenzoate (BDC) (ADB) eH 1,3,5-benzonetricarboxyiate _1,3,5,7-adamantanetetracarboxylate (BTC) (ATC) Hình L Cấu trúc của một số ligand So với các vật liệu truyền thống mà ta đã từng biết: bentonite, zcolite. cấu trúc của MOFs có lỗ xốp lớn và tỷ khối thấp nhất do sự phối trí giữa cation kim loại và các cầu nối hữu cơ.
Phương pháp tổng hợp vật liệu MOFS MOEFs được tổng hợp theo những phương pháp chính dưới điều kiện thủy nhiệt (hydrothermal) hoặc dung môi nhiệt (solvothermal).