Mở đầu Ăn mòn kim loại là nguyên nhân hàng đầu gây ra hư hỏng công trình xây dựng như nhà cửa, cầu cống, các phương tiện giao thông (máy bay, xe, tàu bién.), các đường ống dẫn dầu và khí đốt. Ăn mòn kim loại còn bao gồm cả hiện tượng ăn. mòn các bộ phận thay thế làm bằng kim loại trong con người, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người. Vì vậy, ngân sách các quốc gia phải chỉ trả để giải quyết các hậu quả do ăn mòn gây ra ngày càng lớn.
Hiện nay, nhiều biện pháp đã được nghiên cứu và áp dụng nhằm giảm thiêu tác động của ăn mòn kim loại. Trong số các biện pháp chống ăn mòn đang được sử. dụng, phương pháp sử dụng chất ức chế ăn mòn là một trong những phương pháp. đem lại hiệu quả cao và kinh tế.
Các hợp chất hữu có có khả năng ức chế ăn mòn là các hợp chất có đị vòng thơm chứa các dị tố là O, N, S và P. Một phần không nhỏ các hợp chất chống ăn. mòn dang được sử dụng là những hợp chất có nguồn gốc từ thiên nhiên, được gọi là “chất ức chế ăn mòn xanh”. Ở các nước có đa dạng sinh học cao như Việt Nam, ta có thể tìm ra được nhiều nguồn sản phẩm thiên nhiên có tiềm năng được làm chất ức chế ăn mòn.
Đặc điểm của các “chất ức chế ăn mòn xanh” là có trữ lượng lớn, có. thể tái sinh, sẵn có, thân thiện với môi trường và có thể bị phân hủy bởi các enzym. của các loài sinh vật. Ngoài ra, những đặc điểm về cấu trúc của các chất ức chế ăn.
mòn xanh cũng đáp ứng được điều kiện để làm chất ức chế ăn mòn với hiệu quả tốt. Trong bối cảnh như vậy, các hướng nghiên cứu và tiếp cận cho vắt hồng ăn mòn bằng cách sử dụng “‹ ức chế ăn mòn xanh” để thay thế cho các chất ức. chế tổng hợp đang trở nên rất cẳn thiết và có ý nghĩa. Vì vậy trong đề tài này, tôi đề xuất nhiệm vụ: “Nghiên cứu hoạt tính ức chế ăn mòn sắt của một số dẫn xuất thiophene bằng phương pháp hóa tính toán”.
Chuong 1: Téng quan ly thuyét 1. Ăn mòn kim loại Ăn mòn kim loại là hiện tượng ăn mòn và phá hủy dần dần bề mặt của các. vật liệu kim loại hoặc hợp kim dưới tác dụng của các chất có trong môi trường cùng với sự tham gia của các yếu tố khác như nhiệt độ, độ âm. Khi kim loại hay hợp.
kim bị ăn mòn, các đặc tính của kim loại dần dần bị thay đồi, như tính bền, dẫn điện, dẫn nhiệt, ánh kim. Ăn mòn kim loại đã và đang gây ra nhiều hậu quả đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Sự ăn mòn kim loại đối với kết cấu sắt thép trong các công trình kiến. trúc làm cho các công trình này bị hư hại nghiêm trọng đồng thời làm mắt đi vẻ mỹ.
Ăn mòn kim loại còn gây ra nhiều tác động xấu đối với các phương tiện giao. thông vận tải như xe cô, máy bay, tàu thủy. Đối với nền công nghiệp, ăn mòn kim. loại là nguyên nhân gây ra sự hỏng hóc đối với các thiết bị máy.
Trong quá trình làm việc ở nhiệt độ cao và các điều kiện khác thie day sự ăn mòn, việc các bộ phận này thường xuyên cần được duy tu và thay thé la không tránh khỏi. Với nhiều hậu quả như vậy, kinh phí để các quốc gia chỉ trả ra nhằm giảm. thiểu tác động của sự ăn mòn kim loại mỗi năm là rất lớn. Các quá trình ăn mòn kim loại Vé ban chat, ăn mòn kim loại là sự oxi hóa kim loại tạo thành ion kim loại dưới tác dụng của các tác nhân oxi hóa có trong môi trường.
Quá trình ăn mòn kim. loại được biểu diễn thành bai quá trình oxi hóa và quá trình khử như sau: 'Quá trình oxi hóa: M——M”' + me Quá trình khử: X+xe—X= Dựa vào cơ chế phản ứng xảy ra trong quá trình ăn mòn kim loại, sự ăn mòn kim loại được chia làm 2 loại chính như sau () Ấn mòn hóa học An mon hóa học là sự phá hủy kim loại dưới tác dụng của các tác nhân oxi hóa có trong môi trường ở nhiệt độ cao như trong lò đốt, các động cơ đốt trong hoặc. trong các thiết bị thường xuyên tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao. Bản chất của.
sự ăn mòn là sự dịch chuyển trực tiếp các điện tử tự do (là các điện tử dùng chung. trong mạng lưới tinh thể kim loại) từ mạng lưới tỉnh thé kim loại sang môi trường oxi hóa. Kim loại chuyển thành ion dương và dịch chuyển vào trong môi trường hoặc kết hợp với các anion có trong môi trường tạo ra sản phẩm là các hợp chất bền. Dae điểm của ăn mòn hóa học là không phát sinh ra dòng điện.
Nhiệt độ của quá trình ăn mòn cảng cao, khả năng ăn mòn càng mạnh. đi) __ Ấn mòn điện hóa _Ăn mòn điện hóa là quá trình phá hủy kim loại (hay hợp kim) do tiếp xúc với dung địch chất điện li tạo ra các điện cực đưới tác dụng của các tác nhân oxi hóa có trong môi trường. Ăn mòn điện hóa là sự ăn mòn có tạo ra dòng điện. Đây là là quá trình ăn mòn kim loại rất phổ biến, như quá trình ăn mòn vỏ tàu biển, các ống kim.
loại trong lòng đất, các kết cấu thép trong các công trình, các phương tiện giao. thông vận tải. So với ăn mòn hóa học, ăn mòn điện hóa xảy ra nhanh hơn và không. yêu cầu về nhiệt độ cao.
Do đó, chống ăn mòn kim loại chủ yếu là chống các quá. trình ăn mòn điện hóa xảy ra. 'Về cơ chế, sự ăn mòn điện hóa xảy ra tại hai điện cực anode và cathode như sau: «_ Điện cực anode: là điện cực xảy ra quá trình oxi hóa điện hóa, kim loại nhường điện tử tạo thành cation (có dạng M””). Các cation chuyển từ điện cực anode vào trong dung dịch, trong khi điện tử chuyển từ điện cực anode sang điện cực cathode.
Bán phản ứng ở anode được biểu diễn như sau M—>M™ +me © Dién cuc cathode: la dign cue xay ra qué trinh khir dién héa, qua trinh này cần phải có một chất oxi hóa đề nhận điện tử từ kim loại (hay từ điện cực anode). Các chất oxi hóa là những chất có trong môi trường, thường 14 Os, Ch, N,O,, Hs0q),. Ban phản ứng ở cathode xảy ra như sau X+xe—>X" 1⁄2. Chất ức chế ăn mòn 1.
Chất ức chế ăn mòn Hiện nay có nhiều biện pháp đã được nghiên cứu và áp dụng để giảm thiểu. hiện tượng ăn mòn kim loại như: phương pháp hợp kim hóa, bao phủ bảo vệ, điện hóa, sử dụng chất ức chế ăn mòn. Trong các biện pháp đã được sử dụng, phương. pháp sử dụng chất ức chế ăn mòn là một trong những phương pháp đem lại hiệu quả cao nhất.
Chất ức chế ăn mòn được định nghĩa là các hợp chất (vô cơ hoặc hữu cơ). được đưa vào môi trường với một hàm lượng nhỏ nhằm giảm đáng kể quá trình ăn mòn kim loại. Hiệu quả ức chế ăn mòn (») được định nghĩa là tỉ lệ giữa độ giảm mức độ ăn mòn vật liệu khi có mặt chất ức chế ăn mòn so với mức độ ăn mòn khi không có mặt chất ức chế ăn mòn. Hiệu quả ức chế (ø;) được tính như sau: day trong dé i, va i-o lần lượt là mức độ ăn mòn vật liệu khi có và không có mặt chất ức.
Với sự có mặt của chất ức chế ăn mòn kim loại, quá trình ăn mòn trên kim loại có thể giảm đến 98% [2]. Hiện nay, các hợp chất được sử dụng làm chất ức chế ăn mòn thường là các. hợp chất hữu cơ hoặc các loại polymer sơn phủ, những chất có khả năng hấp phụ. hóa học lên bề mặt của kim loại.
Trong đó, các hợp chất hữu cơ đã và đang được. nghiên cứu và ứng dụng phổ biến vì có những đặc điểm tốt về cấu trúc để có thể làm chất ức chế ăn mòn kim loại. Những hợp chất này có tiểm năng hắp phụ lên bề mặt của kim loại và hình thành nên một lớp mảng bao phủ, bảo vệ kim loại khỏi sự. tắn công của các tác nhân oxi hóa có trong môi trường.
Các chất ức chế ăn mòn có thể được chia thành 2 loại tùy thuộc khả năng. tương tác của nó với môi trường hay bề mặt kim loại [2]. () __ Chất loại trừ tác nhân ăn mòn: ‘Chat loại trừ tác nhân ăn mòn là những chất được đưa vào môi trường nhằm. loại trừ các tác nhân có tính oxi hóa trong môi trường như hydraZine (N;H,), natri sunfit (NasSO)), khí sunfurơ (SO›).
Sự ăn mòn vật liệu có thê được khống chế bằng cách đưa các chất có khả năng phản ứng với các chất oxi hóa có trong môi. Ưu điểm của các hợp chất này là rẻ tiền, dễ kiếm do chúng có thể thu được. từ quá trình sản xuất các hợp chất khác. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của các.
hợp chất này là hiệu quả chống ăn mòn không cao, chỉ phù hợp với một số điều kiện. nhất định, có thể tạo ra nhiều hợp chất khó xử lý, đồng thời lượng chất ức chế ăn. mòn cần phải được thường xuyên bổ sung do chúng bị mắt đi trong quá trình phản. ứng với các tác nhân oxi hóa có trong môi trường.
(lì) Chất ức chế ăn mòn ở bề mặt tiếp xúc pha. Chất ức chế ăn mòn ở b mặt tiếp xúc pha là những chất được thêm vào để khống chế quá trình ăn mòn bằng cách tạo lớp màng ngăn cách ở bề mặt tiếp xúc. giữa kim loại với môi trường. Một số chất ức chế ăn mòn đang được nghiên cứu và.
sử dụng hiện nay như: các di vòng thơm của pyrrole, imidazoline, pyran, thiophene, selenophene. và các dẫn xuất của chúng. Chất ức chế ở bề mặt tiếp xúc pha lại được chia thành các loại là chất ức chế anode, cathode hay chất ức chế ăn mòn hỗn. hợp dựa vào việc chúng ức chế các phản ứng điện hóa ở anode, cathode hay cả hai So với các chất loại trừ tác nhân ăn mòn, hiệu quả ức chế của các chất ức chế ở bề mặt tiếp xúc pha là tốt hơn và thời gian ức chế chế ăn mòn xảy ra lâu dài hơn.
Ngoài ra, các chất ức chế ăn mòn còn có thể được chiết xuất từ các chất trong tự nhiên. Vì vậy, các hợp chất ức chế ăn mòn loại này đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu ngày cảng nhiều hơn cả trong lý thuyết lẫn thực nghiệm. Cơ chế hoạt động của các chất ức chế ăn mòn.