Chương 1 TÔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về nano caebon dạng ống (CNT&)|2], [17] 1-1-1. Khái niệm Nano cacbon dang Sng (tiéng anh: Carbon nanotube - CNTs) là các dạng thù hình của cacbon. Nano cacbon dạng ống đơn lớp là một tắm than chỉ có độ dày một nguyên tử cuộn tròn lại thành một hình trụ liền, với đường kính cỡ nanomet.
Điều này xảy ra trong các cấu trúc nano mà ở đó tỷ lệ giữa chiều dài và đường kính vượt lên 10000.Các phân tử cacbon hình trụ đó có các tính chất thú vị làm cho chúng có. khả năng hữu dụng cao trong rất nhiều ứng dụng của công nghệ nano, công nghệ điện tử, quang học và một số ngành khoa học vật liệu khác Chúng thể hiện độ bền đáng kinh ngạc và các tính chất điện độc đáo, độ dẫn nhiệt hiệu quả. eacbon dạng ống vô cơ cũng đã được tổng hợp. Nano cacbon dạng ống là một loại cấu trúc fullerene, trong đó cũng bao gồm cả buekyball.Trong buckyball có dạng hình cầu, một ống nano lại có dạng hình trụ.
với ít nhất một đầu được phủ bởi một bán cầu có cấu trúc buckyball. Tên của chúng. được đặt theo hình dạng của chúng, do đường kính của ống nano vào cỡ một vài nanomet trong khi độ dài của chúng có thể lên tới vải milimet. Các nhà nghiên cứu.
ở đại hoc Cininnati (UC) đã phát triển một quá trình để xây mạng thẳng hàng các nano cacbon éng cực dài, học đã có thể sản xuất các nano cacbon dạng ống đài 18nm va có thé xoắc lại thành các sợi nano cacbon. Bản chất của liên kết trong nano cacbon dạng ng được giải thích bởi hóa. học lượng tử, cụ thể là sự xen phủ obital.Liên kết hóa học của các ống nano được. cấu thành hoàn toàn bởi các liên kết sp°, tưởng tự than cñ.
Cấu trúc liên kết này mạnh hơn các liên kết sp? ở trong kim cương, tạo ra những phân tử với độ bền đặc biệt. Các ống nano thường tự sắp xếp thành các "sợi dây thừng” được giữ với nhau bởi lực hút Vander Wall. Dưới áp suất cao, các ống nano có thể trộn với nhau, trao. đổi một số liên kết sp cho liên kết sp’, tao ra khả năng tạo thành các sợi đây khỏe, độ dài không giới hạn thông qua liên kết Ống nano áp suất cao.
Cấu trúc của nano cacbon dạng Ống 1. Nano cacbon dạng ống đơn lớp Hình 1. Cấu trúc ống nano eacbon đơn lớp. Phần lớn các nanodạng ống đơn lớp (SWNTs-Single-Walled Nanotubes) có đường kính gần I nanomet, với độ đài đường ống có thể gấp hàng nghìn lần như vậy.
Cấu trúc của một SWNTS có thể được hình dung là cuôn một vách than chỉ độ đây một nguyêmữ (còn gọi ligraphene) thinh một hình trụ liền. Cách mà tắm eraphene được cuộn như vậy được biểu diễn bởi một cặp chỉ sé (nm) goi la vector chial. Các số nguyênnvàmlà số của các vector đơn vị dọc theo hai hướng trong lưới tỉnh thể hình tổ ong của graphene. Nếum=0, ống nano được gọi là "zigzag".
Néun=m, ống nano được gọi là "ghế bành". Nếu không, chúng được gọi là 'chiral" Nano cacbondang ống đơn lớp là loại nano cacbon dạng ống cực kì quan trọng bởi chúng thể hiện các tính chất điện quan trọng mà không ống nano đa vách. Các nano dạng ống đơn lớp là ứng cử viên sáng giá trong việc thu nhỏ kích thước sản phẩm ngành cơ điện từ cỡ micro hiện nay xuống còn nano. Sản phẩm căn bản của ngành này là dây điện, mà SWNTS lại dẫn điện rất tốt.
dụng hữu ích khác của SWNTS là trong việc phát triển các transitor cảm ứng (EET- field effect transitor) nội phân tử. Việc sản xuất cửa luận lý (logic gate) đầu tiên sử dung FET lim bằng SWNTs gần đây đã trở thành hiện thực. Bởi vì SWNTs trở thành p-FET khi tiếp xúc với oxy và n-FET khi không tiếp xúc với oxy, chúng đều. 10 6 thể bảo vệ một nửa SWNTS khỏi bị tiếp xúc với oxy, trong khi cho tiếp xúc với oxy nửa còn lại.
Kết quả là một SWNTs đơn có thể hoạt động như một cửa luận lý NOT với cả loại FET n và p trong cùng một phân tử 1. Nano cacbon dạng ống đa lớp Hình 1. Nano cacbon dạng ống đơn lớp và đa lớp Cacbon nano dang ống đa lớp (MWNTs) gồm nhiều lớp than chi (graphite). Có hai mô hình được sử dụng để mô tả MWNTS.
Trong mô hình thứ nhất có tên goi:Russian doll, MWNTs gồm nhiều ống SWNTs đơn lồng vào nhau. Trong mô hình thứ hai: Parchment, MWNTs duge m6 ta như một tắm graphite cuộn lại. Khoảng cách gi lớp trong MWNTS tương đương một lớp, khoảng. ách các lớp graphite trong cấu trúc than chỉ, xắp xỉ 3.
MWNTS có đường kính lớn hơn SWNTS, và có độ trơ với hóa chất cao hơn.Năm 2009, nhóm nghiên cứu của giáo su James Tour 6 DH Rice ding KMnOs trong HzSO: đã để mở ống MWNTs tạo nên Graphene nanoribbon, công trình được đăng trên tạp chí nature.MWNTS hai lớp được gọi là DWNTs, được tổng hop trên quy mô gram vào năm 2003 bằng phương pháp CCVD. Các dạng khác của nano cacbon dạng Ống *Dạng mắm: Ông nano cacbon mầm là một dạng đặc biệt, kết hợp bởi nano. cacbon đạng ống và fullei “Trong vật li composite, mam fullerene đóng vai trò như mỏ neo giúp các ống nano cacbon không trượt, giúp tăng cường độ bền của vật liệu *Dạng vòng: Nano cacbon dạng vòng được tiên đoán bằng lý thuyết với các tính chất đặc biệt. Nano cacbon dạng vòng *Cycloparaphenylene Hình 1.
Cấu trúc Cycloparaphenylene Nano cacbon dạng ống dài 18,5em được báo cáo vào năm 2009, được tổng hợp trên nền silic bằng phương pháp CVD cải tiến Nano cacbon dạng ống ngắn nhất được biết đến là phân tử cyeloparaphenylene, được tổng hợp vào đầu năm 2009.Nano cacbon dang ống mỏng nhất là loại ghế bành (armchair) với đường kính. 3Ä, được tổng hợp trong lòng nano cacbon dạng ống đa lớp. Việc xác định loại i được thực hiện bằng kính hiển vi điện tử quét quyền qua độ phân giải cao. Tính chất của CIVTS 1.
Tính chất co hoc ‘Ong CNTs rat bén: theo trục ống, ống nano có suất Young rất lớn, có độ bền. cơ khí ất cao, khả năng chịu nén, kéo, đàn hỏi, uốn, cắt có thể gọi là vô cùng do chiều đài ống là vô cùng lớn, do đó rất thích hợp cho các vật liệu đòi hỏi tinh di hướng. Ta có thể làm một phép so sánh với thép và nhận thấy rằng Nanotubes nhẹ hơn thép 6 lần và bền hơn thép 100 lần, lấy mũi nhọn nén vào đầu ống, ống bị uốn cong nhưng đầu ống không bị hư hại gì. Nếu thôi không tác dụng lực nữa, ống thắng lại như ban đầu đối với CNTs dạng thằng.
Đối với MWNTS suất young trung. binh la 1,8Tpa (1Tpa = 10'? Pascale). Ong CNTs có thể biến dạng đến 40% mà chưa thấy xuất hiện biến dạng dẻo, chưa thấy triệu chứng có vết nứt hoặc đứt gây. Quan sát ở hiển vì điện tử thấy khi biến dạng CNTs, có lúc ống bị bẹp lại, có lúc ống bị xoắn, có khi ống thắt eo theo nhiều nắc.
Về mặt năng lượng, ống theo. nhận năng lượng cơ để biến dạng nhưng khi cấu trúc ống thay đổi đột ngột, Ống lại nhá ra năng lượng. Biến dạng déo & CNTs li quan đến những sai hỏng thường gọi là cặp vòng 5-7; sai hỏng này xuất hiện khi thin CNTs không có gì sai hỏng thì các nguyên tử cacbon trên ống nằm theo hình sáu cạnh, khi làm biến dạng đến một lúc nảo đó có thể làm liên kết bị dịch chuyển, mắt đi một mối liên kết, hình sáu cạnh trở thành hình năm cạnh, hình sáu cạnh gần đó lại nhận thêm một mối liên kết nữa để trở thành hình bảy cạnh. Như vậy, từ không có sai hỏng ống Nano trở thành một cặp sai hỏng 5-7 cạnh.Dưới sự tác dụng của lực lên CNTS, nhiều cặp sai hỏng như trên có thể được sinh ra và chuyển động, kết quả là CNTs có những biến dạng phức tạp.
Tính chất điện Các CNTs có đường kính nhỏ sẽ là bán dẫn hay kim loại. Độ dẫn điện khác nhau là do cấu trúc phân tử gây ra bởi sự khác nhau của các nhóm cấu trúc và theo. đó là sự khác nhau về độ chênh lệch mức năng lượng. DỄ dàng nhận thấy rằng độ dẫn điện phụ thuộc vào nhiều sự sắp xếp của tắm graphen.
Điện trở của nó được xác định bởi lớp vỏ lượng tử và hoàn toàn không phụ thuộc vào chiều dài ống. Độ dẫn điện thuộc vào cấu trúc (mmn), nếu ta thay đổi cấu tre thi CNTs có thể thay đổi độ dẫn điện từ điện môi đến bán dẫn rồi đến dẫn điện như kim loại Băng 1. Phân loại một số đặc trưng dẫn điện của CNTs Loại CNTs (am) Tính dẫn điện. Kim loại Zigag — | (n0).n3 không nguyên | - Bán dần Chiral (m-m)/3 nguyên.
Kim loại Chiral (n-m)/3 khong nguyén Bán dẫn Độ dẫn điện của loại đơn lớp cũng phụ thuộc vào đường kính của ống cũng như lực tác dụng lên ống. Dùng hiển vi lực nguyên tử để đo điện trở từng phần của Nanotubes thì thấy đối với loại SWNTs dẫn điện như kim loại thì điện trở không 13 thay đổi dọc theo ống. Tuy nhiên đối với CNTS dẫn điện theo kiểu bán dẫn khi kết lại thành sợi dài thì điện trở rất phụ thuộc vào các vị trí đặt các đầu bốn mũi dò để đo. Nói chung suất điện trở của ống nano vào cỡ 10 ohm/cm ở 27°C.
Như vậy sợi CNTs là sợi cacbon có độ dẫn điện tốt nhất Sai hỏng ở CNTS có thể làm thay đổi tính dẫn điện. Tính chất điện của CNTs đa lớp còn phức tạp hơn rất nhiều. Khoảng cách giữa các vách theo chiều xuyên tâm nhỏ nhất là 0,34 nm (bằng khoảng cách giữa các lớp của cấu trúc Graphit). Có thể xem điện tử bị nhốt trong các tắm Graphen phẳng vì khi đường kính của ống lớn khe năng lượng gần như bằng không (tủy theo từng loại Zigzag, armchair, chiral) thì các ống bên ngoài cũng ít nhiều dẫn ðiện do.
ðó MWNT ít nhất cũng có tính chất bán kim nhý Graphit. Độ hoạt động quang học. Các nghiên cứu lý thuyết đã cho thấy rằng độ quang hoạt của ống nano chiral sẽ biến mất nếu đường kính ống nano trở nên lớn hơn.Độ quang hoạt có thể sẽ gây ra mốt số kết quả tốt trong thiết bị quang học trong đó ống nano đóng một vai trò quan trọng.4 Tỉnh chất hóa học CNTs tuong đối trơ về mặt hóa học, nano cacbon dạng ống có kích thước cảng nhỏ thì hoạt động hóa học càng mạnh. Để tăng hoạt tính hóa học của CNTS người ta thường tạo các sai hỏng trên ống hoặc biến tính bề mặt ống.
Độ hoạt động hóa học của SWNTs là do tính bất đối xứng của Orbital- do.