Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 1. Khái niệm Xưng hô trước hết là một hành vi giao tiếp xã hội thể hiện lối ứng xử văn hóa của con người trong những cộng đồng nói năng nhất định. Hành vi giao tiếp ấy được hiện thực hóa qua các dạng thức ngôn ngữ xưng hô (address form) [17].
Theo cách hiểu của những người thực hiện luận văn, “xưng” là việc sử dụng một biểu thức ngôn ngữ để tự quy chiếu mình, “hô” là việc sử dụng một biểu thức ngôn ngữ để quy chiếu đối tượng trực tiếp tham gia giao tiếp và cả đối tượng mà hành vi giao tiếp hướng tới. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “từ xưng hô” trong tiếng Việt. Những quan niệm khác nhau này đã được cụ thể qua việc đưa ra những khái niệm và các cách lý giải không giống nhau về từ xưng hô, đồng thời gọi tên từ xưng hô bằng những thuật ngữ khác nhau như: đại từ nhân xưng, đại từ xưng hô, đại danh từ nhân xưng, từ xưng gọi [4]. Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Xưng hô là một hành vi chiếu vật, ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với người nói, người tiếp thoại.
Xưng hô thể hiện quan niệm vai giao tiếp. Tác giả Nguyễn Minh Chiến đã quan niệm: “Đó là những từ được rút ra trong hệ thống ngôn ngữ dùng để xưng hô (biểu thị các phạm trù xưng hô nhất định) giao tiếp xã hội”. Các tác giả Lên Biên, Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, đại từ nhân xưng (xưng hô) được chia làm hai nhóm: a. Đại từ nhân xưng (xưng hô) đích thực: tôi, tao, tớ, hắn, họ.
Đại từ nhân xưng lâm thời: nguyên là những danh từ chỉ người trong quan hệ thân thuộc được lâm thời dùng làm đại từ nhân xưng (xưng hô): ông, bà, bố, mẹ, anh, em, con, cháu, cô, dì, chú, bác, cậu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ` Từ cách quan niệm trên, các tác giả đưa ra khái niệm rằng: “Đại từ nhân xưng (xưng hô) là những từ ngữ dùng để trỏ hay thay thế cho một chủ thể giao tiếp với mục đích xưng hô [33]. Tác giả Trương Thị Diễm [7] trong công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra quan điểm rằng: “một khi chúng ta xem đại từ là những từ không có nghĩa biểu vật thì cũng khó chấp nhận đưa tất cả các từ dùng để trỏ hay thay thế cho một chủ thể trong giao tiếp với mục đích xưng hô vào loại đại từ. Bởi vì, ngoài những từ mà các tác giả gọi là đại từ nhân xưng đích thực vốn không có nghĩa biểu vật thì còn rất nhiều từ mang chức năng xưng hô nhưng nghĩa biểu vật của nó vẫn nhận ra rất rõ.
Thí dụ, các từ như anh, chị, cô, bác, kỹ sư, bác sĩ, vv. Xoay quanh khái niệm về từ nhân xưng, tác giả Lê Thanh Kim [17] cũng đã đưa ra quan điểm rằng: “Từ xưng hô bao gồm những từ dùng để xưng (tự xưng) hoặc để hô (gọi) một người nào đó khi người đó ở một ngôi giao tiếp nhất định. Luận văn cho rằng quan điểm này đã làm rõ được hai vấn đề mà những quan niệm đi trước thường nhầm lẫn hoặc mập mờ trong cách hiểu, đó là: 1. Từ xưng hô bao gồm đại từ nhân xưng/đại từ xưng hô, 2.
“Xưng hô” và “xưng gọi” không hoàn toàn giống nhau. Phân loại Có nhiều quan niệm được đưa ra xoay quanh việc phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt, xin được tóm tắt một số cách phân loại như sau: Tác giả Đỗ Hữu Châu [4] cho rằng: để xưng hô, ngoài các đại từ, các ngôn ngữ còn có thể dùng các từ loại khác nhau như: tên riêng, tên chức danh, tên nghề nghiệp, các từ chỉ quan hệ thân tộc, các từ chỉ quan hệ không gian (đây, đấy, ấy, đằng này.), thậm chí trống vắng từ xưng hô.; cụ thể là: - Trước hết, phải kể đến “biểu thức ngôn ngữ ngữ pháp hóa các ngôi để xưng hô trong các ngôn ngữ là các đại từ nhân xưng”.Các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt là tôi, tao, tớ, tui, qua, mày, mi, mình; choa, chúng tao, chúng ta, chúng tôi, chúng mình, chúng tớ, bầy (bi), chúng mày; bay, hắn, nó, y, thị,. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ` - Thứ hai là các từ chỉ quan hệ thân tộc. Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt là những từ chỉ người trong gia đình, họ tộc có quan hệ huyết thống, nội ngoại gần xa với nhau.
Các từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt có thể chia thành hai nhóm: các từ thân tộc đơn (kị, cụ, ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì, mợ, thím, cha, mẹ, bố, tía, ba, má, u, bầm, anh, chị, em, con, cháu, chồng, vợ, dâu, rể.) và các từ thân tộc phức (kị ông, kị bà, kị nội, kị ngoại, cụ ông, cụ bà, cụ nội, cụ ngoại, ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại, bác trai, bác giá, anh trai, chị gái, cháu trai, cháu gái. - Thứ ba là dùng tên riêng. Tên riêng - tên chính (không kể tên gọi theo tên của chồng - với phụ nữ có chồng và tên gọi theo tên con - với phụ nữ đã có con) có thể dùng một mình để tự xưng, đối xưng và tha xưng. Khi được dùng để tự xưng và đối xưng, các tên chính thường được dùng ở dạng một âm tiết.
Việc dùng tên chính hai âm tiết cũng có thể, nhưng không phổ biến. - Thứ 4 là dùng từ chức danh, nghề nghiệp. “Nghề nghiệp là tính chuyên nghiệp trong sản xuất, điều hành, quản lí xã hội, trong tôn giáo mà một người được đảm nhiệm. Chức danh bao gồm chức và hàm.
Chức hay chức vụ là trách nhiệm và quyền lực được giao trong việc điều hành một tổ chức kinh tế, hành chính, xã hội, quân đội, tôn giáo. Hàm là danh nghĩa được phong tặng hay công nhận theo tài năng, đức độ, sự cống hiến”. - Cuối cùng là các bán đại từ, đây là các từ xưng hô không phải từ thân tộc, cũng không phải là các đại từ thực sự. Có ba nhóm bán đại từ: 1.
Các từ như ngài, ngươi, trẫm, khanh, thiếp, chàng, nàng. Những tổ hợp từ Hán Việt như ngu đệ, hiền huynh. Các từ chỉ xuất không gian hoặc những tổ hợp từ có chỉ xuất không gian ở sau để tự xưng như đây, thằng này (con này), đấy, đằng ấy. Trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản [16], tác giả Nguyễn Văn Khang đã hệ thống xưng hô thành 6 cách, tương đương với 12 kiểu như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Xưng hô bằng họ và tên, gồm: (1) Xưng hô bằng tên. (2) Xưng hô bằng họ. (3) Xưng hô bằng tên đệm + tên. (4) Xưng hô bằng họ + tên.
(5) Xưng hô bằng họ + tên đệm + tên. Xưng hô bằng tất cả các từ dùng để xưng hô, gồm: (6) Các đại từ nhân xưng. (7) Các từ thân tộc dùng làm từ xưng hô. (8) Các từ khác được dùng làm từ xưng hô.
Xưng hô bằng chức danh, gồm: (9) Gọi bằng một trong các chức danh. (10) Gọi bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh. Xưng gọi bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con). (11) Gọi bằng tên của người thân thuộc như tên của chồng, vợ, con E.
Xưng hô bằng sự kết hợp (1), (2), (3), (4): (12) Gọi bằng các kết hợp khác nhau (thí dụ chức danh + tên; chức danh + họ tên; từ xưng hô + tên/họ tên. Xưng hô bằng sự khuyết vắng từ xưng hô (12) không xuất hiện từ xưng hô trong giao tiếp (khuyết vắng từ xưng hô). Công trình nghiên cứu về “Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt” cũng bàn đến vấn đề phân loại từ xưng hô. Theo tác giả, những từ dùng để xưng hô rất phong phú và đa dạng, bao gồm hai nhóm lớn: a.
Đại từ nhân xưng chuyên dùng: tôi, tao, tớ, mày, bay, mi, ngài, mình, nó, hắn, vị, gã, thị, nàng, chàng, thiếp. Từ xưng hô lâm thời bao gồm: - Các danh từ chỉ quan hệ thân tộc: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, con, cháu. - Các danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp: giáo sư, bác sĩ, chủ tịch, giám đốc, kĩ sư. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ` - Các danh từ chỉ quan hệ xã hội: bạn, đồng chí, đồng hương.
- Các từ chỉ nơi chốn: đằng ấy, đây, đấy, đó,ấy. - Họ tên riêng của người: Lâm, Vân, Thành, Hải, Nguyễn Văn A, Hoàng Thị B. - Thậm chí là các động từ, tính từ chuyển hóa như: cưng, bé, nhỏ, út, bồi. Luận văn cho rằng cách phân loại của tác giả Nguyễn Văn Khang là khoa học, phù hợp hơn cả.
Luận văn sẽ áp dụng cách phân loại này vào việc phân loại từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ. Chức năng Mặc dù tên gọi, khái niệm và cách phân loại từ xưng hô chưa hoàn toàn thống nhất; nhưng từ sự hành chức có thể thấy sự thống nhất về chức năng của từ xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ. Có thể kể đến hai chức năng cơ bản của từ xưng hô là chức năng chiếu vật và chức năng thể hiện quan hệ liên nhân. Chức năng chiếu vật Đỗ Hữu Châu cho rằng, xưng hô là một hành động chiếu vật.
Vì vậy, xưng hô trước hết để qui chiếu một người nào đó trong một vai giao tiếp cụ thể bằng một từ xưng hô nào đấy. Sự chiếu vật chính là sự định vị, sự quy chiếu của người nói và người nghe về vai giao tiếp của mình với các đối tượng trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. “Định vị được hiểu là sự xác định và sự đồng nhất người, quá trình, sự kiện mà người ta nói đến và quy chúng với một ngữ cảnh không gian nào đó được tạo nên và được duy trì bởi hành động phát ngôn và bởi sự tham gia của một người nói duy nhất và ít ra là đối với một người nghe” [35]. Từ sự cắt nghĩa về chức năng định vị (chức năng chiếu vật) của từ xưng hô như trên, có thể hiểu là từ xưng hô chỉ bộc lộ chức năng định vị (chiếu vật) trong sự hành chức của từ xưng hô.