Luận Văn Thạc Sĩ Về Ca Từ Hát Trống Quân Tại Hưng Yên

Luận văn thạc sĩ môi trường nghiên cứu hay ca từ hát trống quân ở hưng yên trong môi trường diễn xướng dân gian, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

188
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HÁT TRỐNG QUÂN Ở HƯNG YÊN

1.1. Khái niệm “Hát trống quân”

1.2. Khái niệm “Diễn xướng dân gian”

1.3. Các thuật ngữ trong hát trống quân. Khái quát về vùng đất Hưng Yên

1.4. Tổng quan về hát trống quân ở Hưng Yên

1.5. Nguồn gốc hát trống quân và sự phát triển của hát trống quân ở Hưng Yên

1.6. Môi trường diễn xướng hát trống quân ở Hưng Yên

2. CHƯƠNG 2: CÁC GÓC ĐỘ CUỘC SỐNG ĐƯỢC PHẢN CHIẾU TRONG CA TỪ HÁT TRỐNG QUÂN Ở HƯNG YÊN

2.1. Vẻ đẹp của con người và quê hương trong ca từ hát trống quân ở Hưng Yên

2.2. Hát trống quân phản ánh lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc

2.3. Hát trống quân phản ánh quá trình lao động sản xuất. Tình yêu đôi lứa trong ca từ hát trống quân ở Hưng Yên

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CA TỪ HÁT TRỐNG QUÂN Ở HƯNG YÊN

3.1. Ngôn ngữ của hát trống quân ở Hưng Yên

3.2. Điển tích, điển cố trong hát trống quân ở Hưng Yên

3.3. Các biện pháp tu từ thường gặp trong hát trống quân ở Hưng Yên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám Phá Ca Từ Hát Trống Quân Ở Hưng Yên Tổng Quan

Hát trống quân là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của người dân Hưng Yên. Nó không chỉ là một hình thức giải trí mà còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử. Hát trống quân thường được biểu diễn trong các dịp lễ hội, tạo nên không khí vui tươi, gắn kết cộng đồng. Nội dung ca từ thường phản ánh đời sống, tâm tư của người dân, từ tình yêu đôi lứa đến những câu chuyện lịch sử. Việc nghiên cứu ca từ hát trống quân giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của địa phương.

1.1. Hát Trống Quân Đặc Điểm Nghệ Thuật

Hát trống quân có đặc điểm nổi bật là sự đối đáp giữa nam và nữ, tạo nên không khí giao lưu sôi nổi. Lời ca thường mang tính chất hóm hỉnh, sâu sắc, thể hiện trí tuệ và sự khéo léo của người hát.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Hát Trống Quân

Hát trống quân đã có từ lâu đời, gắn liền với đời sống văn hóa của người dân Hưng Yên. Nhiều tài liệu cho thấy loại hình này đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2017.

II. Những Thách Thức Trong Việc Bảo Tồn Hát Trống Quân

Mặc dù hát trống quân có giá trị văn hóa lớn, nhưng hiện nay nó đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển của xã hội hiện đại đã khiến cho nhiều người trẻ không còn mặn mà với các hình thức nghệ thuật truyền thống. Điều này dẫn đến nguy cơ mai một các giá trị văn hóa độc đáo của hát trống quân.

2.1. Sự Thay Đổi Trong Thói Quen Văn Hóa

Thói quen thưởng thức văn hóa của người dân đã thay đổi, nhiều người trẻ không còn tham gia vào các hoạt động diễn xướng dân gian như trước đây.

2.2. Thiếu Tài Liệu và Nguồn Lực

Việc thiếu tài liệu và nguồn lực cho công tác sưu tầm, bảo tồn hát trống quân là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự mai một của loại hình nghệ thuật này.

III. Phương Pháp Bảo Tồn Hát Trống Quân Hiệu Quả

Để bảo tồn và phát huy giá trị của hát trống quân, cần có những phương pháp hiệu quả. Việc tổ chức các lớp học, hội thảo về hát trống quân sẽ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa này. Đồng thời, việc khuyến khích sáng tác mới trong ca từ cũng rất quan trọng.

3.1. Tổ Chức Các Lớp Học Truyền Dạy

Các lớp học truyền dạy hát trống quân sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa của loại hình nghệ thuật này, từ đó khơi dậy niềm đam mê và sự quan tâm.

3.2. Khuyến Khích Sáng Tác Mới

Khuyến khích các nghệ sĩ sáng tác ca từ mới, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại sẽ giúp hát trống quân trở nên hấp dẫn hơn với người trẻ.

IV. Ứng Dụng Hát Trống Quân Trong Cuộc Sống Hiện Đại

Hát trống quân không chỉ là một loại hình nghệ thuật mà còn có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc đưa hát trống quân vào các hoạt động văn hóa, du lịch sẽ giúp nâng cao giá trị và sự phổ biến của nó.

4.1. Hát Trống Quân Trong Du Lịch Văn Hóa

Hát trống quân có thể trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút du khách đến với Hưng Yên, từ đó góp phần phát triển kinh tế địa phương.

4.2. Tích Hợp Vào Các Sự Kiện Văn Hóa

Việc tích hợp hát trống quân vào các sự kiện văn hóa lớn sẽ giúp nâng cao nhận thức và sự quan tâm của cộng đồng đối với loại hình nghệ thuật này.

V. Kết Luận Tương Lai Của Hát Trống Quân Ở Hưng Yên

Hát trống quân là một phần không thể thiếu trong di sản văn hóa của Hưng Yên. Để bảo tồn và phát huy giá trị của nó, cần có sự chung tay của cả cộng đồng. Việc nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của thế hệ trẻ là rất quan trọng.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Tồn

Bảo tồn hát trống quân không chỉ là bảo tồn một loại hình nghệ thuật mà còn là bảo tồn bản sắc văn hóa của người dân Hưng Yên.

5.2. Hướng Đi Tương Lai

Cần có những chiến lược dài hạn để phát triển và bảo tồn hát trống quân, từ đó góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay ca từ hát trống quân ở hưng yên trong môi trường diễn xướng dân gian

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HÁT TRỐNG QUÂN Ở HƯNG YÊN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm “Hát trống quân” Hát trống quân là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian, một hình thức hát giao duyên từ lâu của người Việt ở Bắc Bộ. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hát trống quân.Trong cuốn Hát trống quân, tác giả Trần Việt Ngữ định nghĩa: “Hát trống quân là loại dân ca đối đáp thi tài đua trí với nội dung trao đổi những câu hát giao duyên tình tứ, trao đổi những nhận biết và kinh nghiệm sống giữa nam nữ trung niên, thanh niên trong xã hội nông nghiệp với văn minh lúa nước. Cũng theo lí giải của nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ thì tên gọi trống quân là: “Do đọc chệch từ trung quân, vì đã lấy điệu hát giải trí của đội Trung Quân mà vua Quang Trung tuyển chọn trong cuộc hành quân ra Bắc diệt Thanh”[47, tr.

Hay “do xưa kia có lệ, khi quan đổi lỵ sở thường được bạn đồng liêu theo tiễn một đoạn đường, tay cầm khẩu trống điểm nhịp, hát câu tiễn bạn trong đó có đoạn tống quân nam phố, thương như chi hà (tiễn bạn về phương Nam, nhớ thương ai đo được).Lối hát tiễn của giới nhà quan lan ra dân gian và đọc chệch tống quân thành trống quân” [47, tr.Tác giả Lê Văn Hảo có định nghĩa về trống quân như sau: “Trống quân là một loại hát hội vấn đáp nam nữ thanh niên, khuyến khích họ giãi bày tình cảm, trí thông minh và cốt cách qua trung gian nghệ thuật, trong không khí vui vẻ tưng bừng của hội thu”[15, tr. Cũng bàn về tên gọi của trống quân, nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Loan cho rằng:Cái tên “trống quân” ở đây được bắt nguồn từ hai chữ trống quân trong câu kết trổ nhạc được nhắc đi nhắc lại sau mỗi lần hát của nam hay nữ, đó là “kia hỡi trống quân”. Cách gọi này không chỉ có ở hát trống quân mà còn ở một số thể loại nghệ thuật truyền thống khác cũng có cách đặt tên tương tự như tên gọi “hát lãi lèn” của thể loại hát xoan có nguyên do từ tiếng đệm kết sau mỗi quả cách là “Lãi len là hỡi lãi lèn, len hỡi là len” Căn cứ vào những ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể hiểu hát trống quân là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian có từ lâu đời. Đó là hình thức hát đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 đáp giữa một bên nam và một bên nữ có kèm theo gõ trống.

Hát trống quân có ở rất nhiều nơi nhưng phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ, có nội dung chủ yếu thể hiện tình cảm giao duyên nam nữ. Khái niệm “Diễn xướng dân gian” Diễn xướng là thuật ngữ được dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn học nghệ thuật và đặc biệt trong văn học và văn hoá dân gian.TheoTừ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) đã định nghĩa diễn xướng một cách ngắn gọn là: “Trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu”.Cùng với việc lí giải ý nghĩa của thuật ngữ “Diễn xướng dân gian”, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh nhận định: “Dùng chữ diễn xướng dân gian ta muốn chỉ hẳn vào các hình thái sinh hoạt văn nghệ của nhân dân, thực sự do quần chúng tạo nên, không bị ảnh hưởng của sự chỉ đạo của nhà nước hay của các nhà nghệ thuật chuyên nghiệp”[33, tr. Theo tác giả Lê Trung Vũ: “Diễn xướng vừa là hình thức sinh hoạt văn hoá xã hội định kì (như hội Gióng, hội Xoan, hội Chùa) quy mô làng xã; vừa là sinh hoạt văn hoá xã hội không định kì như (đám cưới, đám tang, lễ thành niên, lễ thượng thọ …) quy mô gia đình hoặc việc làng xã. Diễn xướng là lối trình diễn rất tự nhiên không định kì cũng không định lệ mà do nhu cầu sinh hoạt trong lúc lao động, vì lao động hoặc để giải trí)” [78, tr.

Tìm hiểu về diễn xướng, tác giả Nguyễn Hữu Thu quan niệm: “Thuật ngữ diễn xướng là để chỉ trình bày những sáng tác văn nghệ của con người gồm nhiều yếu tố hợp thành. Diễn xướng là thể thức sinh hoạt văn nghệ mang tính chất nguyên hợp của nhiều người từ lúc sơ khai cho đến thời đại ngày nay”. Tại hội nghị khoa học chuyên đề “Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian với nghệ thuật sân khấu”, các nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm: “Diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân gắn bó chặt chẽ với các vị thần của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước.Diễn xướng dân gian là cái nôi sinh thành của nền văn nghệ dân tộc, có quan hệ mật thiết với hầu hết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 các bộ môn nghệ thuật dân tộc trước cũng như sau những bộ môn riêng biệt”. Bàn về khái niệm này, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu cho rằng: “Nói diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân gắn bó chặt chẽ với các vị thần của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước.Diễn xướng dân gian là cái nôi sinh thành của nền văn nghệ dân tộc” là đúng nhưng chưa đủ vì nhân dân đã làm ra nhiều hình thức văn nghệ khác nhau.

Theo ông “thuật ngữ diễn xướng dân gian có thể và cần được hiểu với hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau. Với nghĩa rộng, diễn xướng dân gian là tất cả mọi hình thức biểu diễn (hay diễn xướng) và ít hoặc nhiều đều mang tính chất tổng hợp tự nhiên, (hay tính chất nguyên hợp) mà lâu nay ta quen gọi là văn học dân gian; còn nghĩa hẹp nó chỉ bao gồm các thể loại diễn (như trò diễn, trò tế lễ dân gian.Hoàng Tiến Tựu đã chia diễn xướng dân gian thành 4 loại: nói, kể, hát, diễn tương ứng với 4 phương thức phản ánh chủ yếu của văn học dân gian là suy lý, tự sự, trữ tình, kịch Căn cứ vào các ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể hiểu diễn xướng là yếu tố cấu thành duy nhất hợp với mục đích cuối cùng của một tác phẩm văn nghệ dân gian. Diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân giúp cho con người có thể nhận thức được nội dung thẩm mĩ của tác phẩm một cách đầy đủ và trí tưởng tượng phong phú. Các thuật ngữ trong hát trống quân.

Theo lời của các nghệ nhân, khi xưa trống quân ở Hưng Yên chỉ chuyên hát mộc mạc theo lời cổ, ngày nay người biên tập, dàn dựng sáng tác đưa vào một số từ gọi là thuật ngữ để lời hát trống quân nuột nà hơn. Đó là những thuật ngữ diễn tả sự mềm mại, nhẹ nhàng, tha thiết của hệ thống làn điệu hát trống quân vừa có ý nghĩa khoa học dựa trên cơ sở thực tế. Trong quá trình đi nghe hát trống quân ở các làng, các câu lạc bộ, chúng tôi thống kê các thuật ngữ được sử dụng trong hát trống quân ở Hưng Yên như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Các thuật ngữ gọi các làn điệu trong hát trống quân: Cò lả:“Điệu hát dân gian, nét nhạc vui và nhịp nhàng, lời ca dựa vào thơ lục bát, tiếng chẵn trong câu thường được hỏi lặp lại”[50, tr. Sa mạc: “Điệu dân ca du dương êm đềm, lời theo thể lục bát”[50, tr.

Bồng mạc:“Điệu ngâm thơ lục bát biến thể, ngân dài giọng và kéo dài lời”[50, tr. Giã bạn:“Làn điệu hát khi đám hội kết thúc”[50, tr. Hát giã bạn gồm một hay nhiều bài hát kể lể tâm sự của trai gái trước khi chia taylàm cho lời ca thêm vấn vương, da diết. Nói lối:“Nói gần như trong ca kịch cổ truyền, trong cải lương, giọng điệu tự do thường có nhạc đệm làm nền”[50, tr.

Hát ví:“Lối hát đối đáp có tính chất trữ tình giữa trai gái trong lao động”[50, tr. Các thuật ngữ thể hiện nội dung trong các chặng hát: Giao duyên:“Trao đổi tình cảm giữa hai bên trai gái trong ngày hội truyền thống”[50, tr. Giao hẹn:“Nêu rõ điều kiện đặt ra với người nào đó trước khi làm việc gì”[50, tr. Ướm:“Nói thử để thăm dò ý kiến xem có thuận không”[50, tr.

Ước hẹn:“Hẹn với nhau nói về việc quan trọng”[50,tr. Thách cưới:“Ra điều kiện cho bên nhà trai về sính lễ để gả con gái cho”[50,tr. Ứng đáp:“Trả lời lại (nói khái quát)”[50,tr. Ứng đối:“Đối đáp nhanh”[50, tr.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Ứng tác:“Sáng tác và biểu diễn ngay tại chỗ không có chuẩn bị trước”[50, tr. Các thuật ngữ thể hiện cách xưng hô trong hát trống quân: Chàng:“Từ dùng để gọi người đàn ông trẻ tuổi có vẻ đáng mến, đáng yêu. Từ phụ nữ dùng gọi chồng hoặc người yêu còn trẻ ý thân thiết”[50, tr. Nàng:“Từ dùng chỉ phụ nữ trẻ tuổi được người yêu quý trọng”[50, tr.656] Tìm hiểu các thuật ngữ trong hát trống quân ở Hưng Yên, chúng tôi nhận thấy hệ thống làn điệu hát trống quân đã góp phần thể hiện thế giới tình cảm phong phú của con người.Lời hát mang đậm chất dân gian mà chủ yếu là lời từ ca dao, hát ví, hát đố.

Do đó đòi hỏi người hát phải có vốn văn học dân gian sâu sắc. Dù là già hay trẻ khi bước vào cuộc hát họ gọi nhau bằng những từ xưng hô rất trân trọng thể hiện được tình cảm mộc mạc của người bình dân. Hát trống quân không chỉ là cuộc hát vui mà còn là cuộc đua trí, thử tài để bên nam bên nữ hiểu nhau hơn. Đây là loại hình sinh hoạt dân gian mang tính sáng tạo rất cao.

Khái quát về vùng đất Hưng Yên Về lịch sử hình thành:Trong Hội thảo khoa học “Hưng Yên truyền thống và phát triển” tổ chức ngày 22 tháng 11 năm 2011,ông Nguyễn Khắc Hào, phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hưng Yên đã nêu rõ: “Hưng Yên vốn là vùng đất phù sa cổ được hình thành từ hàng vạn năm về trước, tích tụ một bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa đậm nét.Vào thời Hùng Vương dựng nước, trên địa bàn Hưng Yên đã có bộ lạc Trâu (bộ lạc chọn con trâu là vật tổ) hay còn gọi là bộ lạc Câu Lậu sinh sống. “Bằng chứng là các di chỉ, di tích còn lại đã được khai quật như mộ cũi ở An Viên (huyện Tiên Lữ), mộ thuyền tại Đống Lương (huyện Kim Động) cùng truyền thuyết về Chử Đồng Tử- Tiên Dung…” [9]. Theo dòng chảy lịch sử, Hưng Yên ngày nay đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau. Thời Hùng Vương, vùng đất Hưng Yên vốn thuộc bộ Dương Tuyền.Thời Bắc thuộc, vùng Hưng Yên thuộc quận Giao Chỉ; thuộc quận Giao Châu.Thời LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 Ngô, vùng Hưng Yên gọi là Đằng Châu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khám Phá Ca Từ Hát Trống Quân Ở Hưng Yên Trong Diễn Xướng Dân Gian" mang đến cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật hát trống quân, một phần quan trọng trong di sản văn hóa dân gian của Hưng Yên. Bài viết không chỉ khám phá nguồn gốc và ý nghĩa của ca từ mà còn phân tích cách thức diễn xướng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và nghệ thuật của hình thức biểu diễn này.

Đặc biệt, tài liệu này còn mở ra cơ hội cho độc giả tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác của văn hóa dân gian Việt Nam. Bạn có thể tham khảo Luận văn triết lý nhân sinh văn hóa dân gian việt nam ca dao tục ngữ triết học để nắm bắt thêm về triết lý trong ca dao và tục ngữ. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ truyện kể dân gian phạm ngũ lão ở hưng yên tiếp cận từ góc độ thể loại sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các truyền thuyết và truyện kể dân gian trong khu vực này. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn làm phong phú thêm trải nghiệm văn hóa của bạn.