Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiền của đề tài. “Chương 2: Rén luyện kĩ năng sử dụng từ láy cho học sinh trong bài văn biểu cảm. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm, Chương CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA ĐÈ TÀI 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN trong tiếng Việt Trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ khác, phương thức láy là phương, thức tác động vào một hình vị rời tự thân có nghĩa (hoặe một đơn vị phức hợp có nghĩa) làm xuất hiện một hình vị láy có hình thức ngữ âm giống hoặc gần giống với nó.
Hình vị có nghĩa sẽ được gọi là hình vị cơ sở. Phương thức láy có thể tạo ra hình thái của từ, biểu thị các ý nghĩa tình thái và quan hệ ngữ pháp hoặc tạo từ mới, tức là tạo ra những từ có trúc nghĩa mới, khác so với cấu trúc của đơn vị cơ sở. Dù những trường hợp rắt ¡ có nhiều đến đâu đi nữa thì cái cơ chế trên của phương thức. lay vin giữa nguyên hiệu lực.
Hiện nay, không có từ láy thì thôi, nhưng nếu đã có thi chúng nhất thiết phải được sản sinh theo cơ chễ nói trên. 'Về vẫn để định nghĩa từ láy, từ trước tới nay còn có nhiễu ý kiến chưa thông, nhất. Diễn hình là những quan niệm sau: - Từ láy là loại từ ghép mà các thành tổ trực tiếp được kết hợp với nhau chủ yếu. theo quan hệ (Nguyễn Tài Ngữ pháp tiếng Việt, 1915).
~ Còn trong cuốn Cơ sở ngồn ngữ học và tiếng Liệt, các tác giá đưa ra quan điểm phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm cho ta các từ ly (còn gọi là tử lấp lay, tir lay âm). Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu la hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và có cả từ láy ba tiếng. Một từ sẽ được gọi là từ láy khi các thành tổ cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại, nhưng vừa có lấp (còn gọi là điệp) vừa có biển đổi (gọi là đối) Vi dụ: đỏ đắn : điệp phần âm đầu, đối ở phần vần |3, tr.146] ~ Quan niệm của giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo. phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu.
biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có ngt i a (Đỗ. Hữu Châu ~ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Viét, NXBGD, 1978), 7 ~ Quan niệm của Nguyễn Văn Tu cho rằng: những từ lấp láy gồm những âm tiết tương quan với nhau hay giống nhau về ngữ âm. Trong tiếng Việt hiện đại, có những, từ gồm hai từ tố có quan hệ về ngữ âm thường gọi bằng tên lấp láy, từ trùng điệp, từ lay am hoặc từ láy. Thực ra trong số những từ kiểu này có những từ thực sự là từ láy âm và cũng có những từ láy âm ngẫu nhiên (đất đai, tudi tác, hỏi han.
) nhưng hiện. nay về mặt quan hệ ngữ âm, chúng ta cũng gọi chung chúng là những từ láy âm. Sở dĩ chúng tôi gọi chung những từ lầy âm là những từ ghép vỉ thực chất chúng được tạo ra bởi một số từ tố với bản thân nó không bị biến âm hoặc bị biến âm. Tử ghép láy Jang lâng gồm có hai từ hoàn toàn giống nhau về âm thanh, Và từ ghép øáy móc gồm từ tổ máy kết hợp với móc là biển thể ngữ âm của máy.
Từ láy âm được tạo thành bằng việc. ghép hai từ tố hoặc hai âm tiết có quan hệ về ngữ âm trên cơ sở láy âm, trên cơ sở lầy. lại bản thân cái âm tiết chính hoặc cái từ tố chính. "Từ láy là những từ ghép vì thực chất chúng được tao ra bởi một từ tố với bản thân nó không bị biển âm hoặc bị biển âm (Nguyễn Văn Tu ~ 7 và vốn rừ tiếng Việt, 1976).
~ Từ láy được cấu tạo bằng cách nhân. \g gốc theo những quy tắc nhất định, sao_ cho quan hệ giữa các tiếng vừa điệp, vừa đối hài hòa với nhau về ngữ âm, có giá trị biểu trưng hóa (Hoàng Văn Hành, Từ ngữ tiếng Liệt trên đường hiểu biết vài khám phá, NXB KHXH, 1991) ~ Bên cạnh đó còn có quan điểm của nhiều nhà Việt ngữ khác. Theo Hữu Quynh: * Trong tiếng Việt, từ ghép theo phương thức láy có một số lượng đáng kể. thức láy là phương thức cấu tạo từ và cụm từ đặc biệt trong tiếng Việt.
(hay còn gọi là từ ghép lắp láy, từ láy) là những từ ghép gồm hai hình vị kết hợp với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm. Các thành tổ của từ ghép lay có mỗi quan hệ với nhau về thanh điệu hoặc về các bộ phận ngữ âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ngữ nghĩa nhất định. Thí dụ: nhỏ nhắn, nhỏ nhoi, nhỏ nhỏ, nhỏ nhặt, nhỏ nhen, chằm chằm, thao thao, tỉ mĩ”. Hay như trong cuỗn Ngữ pháp tiếng Liệt, các tác gid cho ring: “Tir lay đều là từ hai tiếng.
Phần lớn đó là từ gốc Việt. Có một số những từ láy gốc Hán, nhưng có thể coi chúng là đã Việt hóa, đã hòa lộn vào bộ phân từ láy gốc Việt. Ví dụ: phẳng phắt, linh lợi, bồi hồi. Từ lay được cầu tạo theo phương thức phối hợp ngữ âm.
Nói đến " sự phối hợp ngữ âm” ở đây tức là nói đến hiện tượng lặp và hiện tượng đối xứng”. 8 ~ Sách giáo khoa Tiéng Liệt lớp 4 tập 1 [39], tir lay duge định nghĩa như sau: *Từ láy là sự phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần hoặc cả âm đầu và vẫn giống nhau”. Qua xem xét rất nhiều ý kiến khác nhau về tir lay nhưng chúng tôi vẫn thấy được. sự thống nhất ở một số điểm.
Tắt cả các tác giả đều coi từ láy là từ có từ hai tiếng trở lên (thuộc nhóm từ phức); từ láy được cấu tao theo phương thức láy. C¿ c thành tố trong từ láy đều có quan hệ với nhau về ngữ âm (với thanh điệu giữ nguyên hay biến. đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biển đổi theo hai nhóm: nhóm cao. Từ láy bao gồm bai hình vị đó là hình vị gốc (còn gọi là hình vị cơ sở - đó là hình vi rõ nghĩa) và hình vi ly.
Chúng có quan hệ ngữ âm với nhau. Hình vị láy c hé lặp lại những phần trong cấu trúc triết đoạn như âm đầu, vần hoặc lặp cả âm đầu và. Hầu hết c; đều đồng ý: trong tiếng Việt phần lớn là những từ láy đôi (nghĩa là có hai âm tiết) ngoài ra còn có từ láy ba và từ láy tư, Tuy nhiên từ lấy ba va tir lay tư chủ yêu được xây dụng trên cơ sở từ lầy đôi. Hai từ tổ trong từ láy không có quan hệ với nhau về nghĩa Ví dục lơ mơ -> ta lomo Dimg dưng => đừng dừng dưng Lôi thôi => lôi thôi léch théch Hùng hồ -> hùng hùng hồ hồ Cái tồn tại hiện nay là sự phân biệt giữa từ láy và các loại từ khác.
Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những tiêu chí phân định khác nhau. Không phải là sự phân biệt giữa từ láy và các loại từ khác mà là định nghĩa về từ láy và từ có hình thức láy. Riêng đối với day học ở bậc học thấp, để phủ hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, cho phép xếp các từ không có hình vị cơ sở là tir lay. Vi du: ba ba, thuổng luồng, than lần, chôm chôm, du đủ.
Sự phân loại từ lầy Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau từ lớn đến nhỏ. Cần chú ý đến. tính đồng loạt cao của tiêu chí phân loại và thứ tự vận dụng các tiêu chí đó. Người ta.
phân loại từ lầy dựa vào hai tiêu chí sau: a. Căn cứ vào số lần tác động của phương thức lá): Phương thức láy tác động lẳn đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho ta các từ lấy đôi hay từ lay hai âm tế. Thí dụ: gọn - gọn gảng; đẹp - đẹp để, hay - hay hho, hay hém, hay hay Tiếp đó phương thức láy có thể tác đông lần thứ hai vào một tir lay đôi để cho ta từ láy bổn âm tiế. Phương thức láy 1 Phương thức lay 2 khénh ~ khdp khénh -> khắp kha kháp khénh nham - nham nhớ => nham nham nhớ nhỏ: ~ lam nham => lam nham lở nhớ.
Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vảo một hình vị một âm tiết cho ta. một từ lấy ba dm tiét. Thi du: sach -> sach sảnh sanh, tóc -> tóe tỏ loe, dưng => dừng dừng dưng "Phương thức láy cũng có thể tác động một lẫn vào một đơn vị hai âm tiết cho các từ láy tư. Nhưng các từ lầy tư này khác các từ lầy tr chân chính nói trên ở chỗ nó chỉ chịu tác động láy có một lần, như: quản áo -> quấn quân áo áo.
từng lắp ->_ từng từng lớp lớp, cười nói => cười cười nói nói. Căn cứ vào cách hòa phối ngữ âm tie lay được phân [oại thành hai kiếu lớn Láy hoàn toàn nếu toàn bộ âm tiết của từ tố cơ sở được láy lại. Láy bộ phận nếu một bộ phận ngữ âm của âm tiết từ tố cơ sở được láy lại. ~ Ở các từ láy hoàn toàn, từ tổ cơ sở thường ở sau và mang trọng âm.
Từ tổ láy ở trước và được phát âm lướt, đo đó có thể xây ra sự biễn thanh và biển vẫn theo phân tích của GS Nguyễn Tài Cẩn. Khi thanh điệu của từ tố cơ sở là thanh trắc chuyển thành thanh bằng cùng nhóm thì có sự biến thanh. Thí dụ do dé, nằng nặng. âm cuỗi của từ tổ cơ sở là /p/, /ư, /k/ thì sẽ chuyển thành /m/, /m/, /ng/.
Đó là hiện tượng biến vần. Thí dụ đêm đẹp, nhân nhạt, ang ác (anh ách). Tuy nhiên, có trường, hợp thanh trắc nhóm thấp lại được chuyển thành thanh bằng thuộc nhóm thanh cao. như: thâm thẫm (thay vì thâm trằm) đề đọc lướt từ tố lay cho dễ.
“Có những từ lầy hoàn toàn mà từ tổ láy ở trước có thanh trắc như cón con, đứng dung. Từ tổ cơ sở con, dưng. ở sau và cô thanh bằng, ~ Các từ láy bộ phận lại chia thành hai kiểu: điệp âm (lay âm) và điệp vẫn (lay van).