Luận văn thạc sĩ giáo dục học rèn luyện kỹ năng sử dụng từ láy cho học sinh qua dạy học tạo lập bài văn biểu cảm ở thcs

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu rèn luyện kỹ năng sử dụng từ láy cho học sinh qua dạy học tạo lập bài văn biểu cảm ở thcs, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại Học Sư Phạm

Chuyên ngành

Giáo Dục Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
116
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1. Mục đích nghiên cứu

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1. Đối tượng nghiên cứu

4.2. Phạm vi nghiên cứu

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp

5.2. Phương pháp khảo sát, điều tra

5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

5.4. Phương pháp thống kê

6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1. Từ láy trong tiếng Việt

1.1.1.1. Khái niệm từ láy
1.1.1.2. Sự phân loại từ láy
1.1.1.3. Nghĩa của từ láy
1.1.1.4. Vai trò của từ láy trong biểu đạt tiếng Việt

1.1.2. Văn biểu cảm

1.1.2.1. Khái niệm văn biểu cảm
1.1.2.2. Đặc trưng của văn biểu cảm
1.1.2.3. Phân loại của văn biểu cảm
1.1.2.4. Tác dụng của văn biểu cảm
1.1.2.5. Các kĩ năng làm văn biểu cảm

1.1.3. Tâm lý học sinh lớp 7 với vấn đề sử dụng từ láy trong văn biểu cảm

1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1. Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS - phần nội dung dạy học từ láy và văn biểu cảm

1.2.2. Tình hình dạy học kĩ năng sử dụng từ láy trong văn biểu cảm ở THCS

1.2.2.1. Cách thức khảo sát
1.2.2.2. Kết quả khảo sát thực trạng

1.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TỪ LÁY CHO HỌC SINH TRONG LÀM VĂN BIỂU CẢM

2.1. Việc rèn luyện kĩ năng sử dụng từ láy trong văn biểu cảm cho học sinh THCS phải gắn với nội dung, mục đích của phân môn Tập làm văn trong nhà trường

2.2. Dạy học từ láy trong văn bản biểu cảm cần chú trọng nguyên tắc tích hợp

2.3. Dạy học từ láy trong văn bản biểu cảm cần chú trọng quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt

2.4. Dạy học từ láy trong văn bản biểu cảm cần phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập

2.5. TỔ CHỨC DẠY HỌC SỬ DỤNG TỪ LÁY TRONG VIẾT VĂN BIỂU CẢM

2.5.1. Xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng từ láy trong văn biểu cảm

2.5.1.1. Bài tập theo sắc thái biểu cảm
2.5.1.2. Bài tập theo phương thức biểu đạt
2.5.1.3. Bài tập căn cứ vào mức độ nhận thức

2.5.2. Giúp học sinh khắc phục lỗi sử dụng từ láy trong các bài làm văn biểu cảm

2.5.2.1. Khắc phục tình trạng không vận dụng từ láy trong diễn đạt
2.5.2.2. Khắc phục lỗi sử dụng không đúng và không hiệu quả từ láy

2.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM

3.2. KẾ HOẠCH THỰC NGHIỆM

3.2.1. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm

3.2.2. Cách thức thực nghiệm

3.2.3. Tổ chức thực nghiệm

3.3. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

3.3.1. Đánh giá định lượng

3.3.2. Đánh giá định tính

3.3.3. Đánh giá chung

3.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Bí quyết dùng từ láy để nâng tầm bài văn biểu cảm THCS

Trong chương trình Ngữ văn, văn biểu cảm giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh. Một bài văn biểu cảm hay không chỉ cần cảm xúc chân thật mà còn đòi hỏi khả năng diễn đạt tinh tế. Từ láy, với giá trị biểu cảm của từ độc đáo, chính là công cụ đắc lực giúp học sinh thể hiện những rung động sâu sắc nhất. Luận văn thạc sĩ giáo dục học về "Rèn luyện kỹ năng sử dụng từ láy cho học sinh qua dạy học tạo lập bài văn biểu cảm ở THCS" đã cung cấp một cơ sở lý luận vững chắc và những giải pháp thực tiễn. Nghiên cứu này khẳng định, việc sử dụng thành thạo từ láy giúp làm giàu vốn từ vựng, khiến lời văn trở nên sinh động, giàu hình ảnh và có sức lay động mạnh mẽ. Từ láy không chỉ đơn thuần là một đơn vị từ vựng mà còn là một biện pháp tu từ hiệu quả, giúp cụ thể hóa những cảm xúc trừu tượng. Các từ tượng thanh, từ tượng hình trong nhóm từ láy có khả năng mô phỏng âm thanh, hình ảnh của thế giới khách quan, từ đó khơi gợi sự đồng cảm và nâng cao khả năng cảm thụ văn học của người đọc. Việc rèn luyện kỹ năng này không chỉ là nhiệm vụ của môn Tiếng Việt mà còn là một phần cốt lõi trong lý luận dạy học hiện đại, hướng tới việc phát triển toàn diện năng lực tạo lập văn bảnnăng lực giao tiếp cho học sinh theo tinh thần của chương trình giáo dục phổ thông mới.

1.1. Khám phá giá trị biểu cảm đặc biệt của từ láy tiếng Việt

Từ láy là một phương thức cấu tạo từ đặc sắc, mang trong mình khả năng biểu đạt những sắc thái tình cảm tinh tế. Theo các nhà ngôn ngữ học, giá trị của từ láy được tạo nên từ sự hòa phối âm thanh, tạo ra những lớp nghĩa gợi hình, gợi cảm mà từ đơn không thể có được. Ví dụ, thay vì nói "buồn", học sinh có thể dùng "buồn bã", "buồn hiu", "buồn rười rượi" để diễn tả các mức độ và sắc thái khác nhau của nỗi buồn. Luận văn chỉ ra rằng: "Từ láy có vai trò quan trọng trong từ vựng tiếng Việt, một mặt nó góp phần làm phong phú cho kho tàng tiếng Việt. Mặt khác nó có khả năng biểu đạt những sắc thái tình cảm của con người một cách tinh tế, sâu sắc." Việc hiểu rõ giá trị biểu cảm của từ láy là tiền đề để học sinh sử dụng chúng một cách chính xác và sáng tạo.

1.2. Vai trò của vốn từ vựng trong năng lực tạo lập văn bản

Một vốn từ vựng phong phú là nền tảng của năng lực tạo lập văn bản. Đối với văn biểu cảm, vốn từ, đặc biệt là các từ giàu sức biểu cảm như từ láy, càng trở nên quan trọng. Khi học sinh thiếu từ, bài văn sẽ trở nên khô khan, lặp lại và không thể truyền tải hết những suy nghĩ, cảm xúc của người viết. Việc tích lũy và sử dụng thành thạo từ láy giúp học sinh có nhiều lựa chọn hơn trong việc diễn đạt cảm xúc, làm cho câu văn mềm mại, uyển chuyển và giàu nhạc điệu. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng của phương pháp dạy học Ngữ văn hiện đại, không chỉ cung cấp kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng thực hành ngôn ngữ cho học sinh.

II. Phân tích thực trạng kỹ năng sử dụng từ láy của học sinh

Mặc dù vai trò của từ láy là không thể phủ nhận, thực trạng và giải pháp trong dạy học vẫn còn nhiều bất cập. Luận văn đã tiến hành khảo sát tại các trường THCS và chỉ ra một bức tranh đáng suy ngẫm. Kết quả cho thấy đa số học sinh còn lúng túng khi sử dụng từ láy trong bài văn biểu cảm. Nhiều bài viết có cách diễn đạt cảm xúc còn hời hợt, nghèo nàn về từ ngữ, thậm chí sử dụng sai từ láy, làm giảm hiệu quả biểu đạt. Nguyên nhân của thực trạng này đến từ nhiều phía. Về phía học sinh, các em chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc làm giàu vốn từ vựng và thiếu môi trường thực hành thường xuyên. Về phía giáo viên, một số phương pháp dạy học Ngữ văn chưa thực sự chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng một cách có hệ thống. Các giờ học Tiếng Việt và Tập làm văn đôi khi còn tách rời, chưa tạo được sự liên kết chặt chẽ để học sinh vận dụng kiến thức từ lý thuyết vào thực hành viết văn. Nghiên cứu khoa học giáo dục này nhấn mạnh rằng, việc xác định đúng thực trạng là bước đầu tiên để xây dựng các giải pháp can thiệp hiệu quả, góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học.

2.1. Những khó khăn trong việc làm giàu vốn từ vựng cho học sinh

Khảo sát cho thấy, học sinh gặp khó khăn trong việc tích lũy vốn từ vựng do thói quen đọc sách, truyện còn hạn chế. Áp lực từ các môn học khác khiến các em ít có thời gian đầu tư cho việc trau dồi ngôn ngữ. Bên cạnh đó, các bài tập về từ láy trong sách giáo khoa tuy có nhưng chưa đủ để hình thành kỹ năng vững chắc. Học sinh thường học một cách máy móc, chỉ nhận diện được từ láy trong các ngữ liệu cho sẵn nhưng lại không chủ động đưa vào bài viết của mình. Điều này dẫn đến tình trạng năng lực tạo lập văn bản bị hạn chế, đặc biệt là với phương thức biểu đạt biểu cảm đòi hỏi sự tinh tế.

2.2. Lỗi thường gặp khi diễn đạt cảm xúc trong bài viết

Luận văn chỉ rõ các lỗi phổ biến trong bài làm của học sinh: Thứ nhất, không vận dụng từ láy, khiến lời văn khô cứng, đơn điệu. Thứ hai, sử dụng từ láy sai ngữ cảnh, không phù hợp với đối tượng và tình cảm cần biểu đạt. Thứ ba, lạm dụng từ láy một cách sáo rỗng, làm mất đi tính chân thực của cảm xúc. Tác giả luận văn nhận định: "Bài viết của các em còn thiên về tự sự, miêu tả và cách biểu đạt tình cảm còn hời hợt, thiếu cảm xúc, chưa lay động được người đọc." Những lỗi này cho thấy việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cảm xúccảm thụ văn học là một yêu cầu cấp thiết trong dạy học Ngữ văn ở bậc THCS.

III. Phương pháp dạy học Ngữ văn tích hợp rèn kỹ năng từ láy

Để khắc phục những hạn chế đã nêu, luận văn đề xuất các phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp và phát huy tính chủ động của học sinh. Giải pháp cốt lõi không phải là dạy thêm các bài lý thuyết riêng lẻ về từ láy, mà là lồng ghép việc rèn luyện kỹ năng này vào toàn bộ quá trình dạy học, từ đọc hiểu văn bản đến tạo lập văn bản. Nguyên tắc của dạy học tích cực được vận dụng triệt để, biến học sinh từ người tiếp thu thụ động thành chủ thể khám phá vẻ đẹp và giá trị của ngôn từ. Lý luận dạy học hiện đại cho thấy, kỹ năng chỉ được hình thành bền vững thông qua thực hành và trải nghiệm. Do đó, giáo viên cần tạo ra các tình huống giao tiếp, các hoạt động học tập đa dạng để học sinh có cơ hội sử dụng từ láy một cách tự nhiên. Việc đổi mới phương pháp dạy học này không chỉ giúp nâng cao kỹ năng ngôn ngữ mà còn bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, khơi dậy khả năng sáng tạo và cảm thụ văn học sâu sắc hơn ở mỗi học sinh. Cách tiếp cận này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới.

3.1. Vận dụng nguyên tắc dạy học tích cực và quan điểm giao tiếp

Thay vì giảng giải một chiều, giáo viên tổ chức các hoạt động nhóm, thảo luận, yêu cầu học sinh sưu tầm các từ láy hay trong tác phẩm văn học, phân tích tác dụng của chúng. Quan điểm giao tiếp được nhấn mạnh, coi việc viết văn là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn bản. Học sinh được khuyến khích viết những đoạn văn ngắn biểu đạt cảm xúc về một sự vật, hiện tượng gần gũi, sau đó chia sẻ và nhận góp ý từ bạn bè. Qua đó, năng lực giao tiếp và khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt được cải thiện rõ rệt. Phương pháp này giúp giờ học trở nên sinh động và hiệu quả hơn.

3.2. Tích hợp rèn luyện từ láy qua các giờ Đọc hiểu văn bản

Trong các giờ phân tích tác phẩm văn học, giáo viên cần chú trọng hướng dẫn học sinh khai thác giá trị của các biện pháp tu từ, đặc biệt là việc sử dụng từ láy của tác giả. Thay vì chỉ hỏi "Tác giả đã dùng từ láy nào?", câu hỏi nên được nâng cao thành "Vì sao ở đây tác giả lại dùng từ 'lom khom' mà không phải 'còng lưng'?". Cách làm này giúp học sinh không chỉ nhận biết mà còn hiểu sâu sắc về hiệu quả nghệ thuật của từ ngữ. Quá trình này giúp các em học hỏi một cách tự nhiên cách diễn đạt cảm xúc tinh tế từ các nhà văn lớn, làm giàu thêm vốn từ vựng của bản thân.

IV. Hướng dẫn xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng từ láy

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của luận văn là việc đề xuất một hệ thống bài tập thực hành được thiết kế khoa học, có hệ thống để rèn luyện kỹ năng sử dụng từ láy. Hệ thống này không chỉ dừng lại ở các bài tập nhận biết hay điền từ, mà còn bao gồm các dạng bài tập nâng cao, gắn liền với quá trình tạo lập bài văn biểu cảm. Các bài tập được xây dựng theo các cấp độ nhận thức, từ dễ đến khó, từ tái hiện đến sáng tạo, giúp học sinh tiến bộ một cách vững chắc. Mục tiêu của hệ thống bài tập thực hành này là giúp học sinh khắc phục các lỗi sai, hình thành thói quen sử dụng từ láy một cách chính xác và hiệu quả. Việc luyện tập thường xuyên qua hệ thống bài tập đa dạng là con đường ngắn nhất để biến kiến thức lý thuyết về từ tượng thanh, từ tượng hình và các loại từ láy khác thành kỹ năng ngôn ngữ thực thụ. Đây là một giải pháp mang tính thực tiễn cao, có thể áp dụng rộng rãi trong các nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn.

4.1. Các dạng bài tập nhận biết từ tượng thanh từ tượng hình

Giai đoạn đầu, học sinh cần được củng cố khả năng nhận diện các loại từ láy. Các bài tập có thể là: tìm các từ tượng thanh (mô phỏng âm thanh) và từ tượng hình (gợi tả hình ảnh, dáng vẻ) trong một đoạn văn cho trước; phân loại các từ láy theo cấu tạo (láy toàn bộ, láy bộ phận); tìm từ láy đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với một từ cho sẵn. Những bài tập này giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và tạo nền tảng vững chắc cho các bài tập vận dụng phức tạp hơn.

4.2. Bài tập vận dụng và sáng tạo với từ láy trong câu đoạn

Ở cấp độ cao hơn, học sinh được yêu cầu viết lại câu văn, thay thế tính từ thông thường bằng từ láy có giá trị biểu cảm cao hơn. Ví dụ, thay "bông hoa đẹp" bằng "bông hoa xinh xắn". Dạng bài tập sáng tạo hơn là yêu cầu viết một đoạn văn ngắn miêu tả cảnh vật hoặc tâm trạng, trong đó có sử dụng một số từ láy cho trước. Các bài tập này thúc đẩy tư duy sáng tạo, giúp học sinh chủ động vận dụng vốn từ vựng vào việc diễn đạt cảm xúc và nâng cao năng lực tạo lập văn bản.

4.3. Thực hành sửa lỗi và nâng cao khả năng cảm thụ văn học

Giáo viên đưa ra những đoạn văn (có thể lấy từ chính bài làm của học sinh) có lỗi về sử dụng từ láy và yêu cầu cả lớp cùng phát hiện, phân tích và sửa chữa. Hoạt động này không chỉ giúp học sinh nhận ra lỗi sai của mình và của bạn mà còn rèn luyện tư duy phản biện và khả năng cảm thụ văn học. Khi phân tích tại sao một từ láy lại hay hoặc chưa hay trong một ngữ cảnh cụ thể, học sinh sẽ dần hình thành sự nhạy cảm với ngôn từ, một phẩm chất quan trọng của người viết văn hay.

V. Đánh giá kết quả dạy học từ láy qua thực nghiệm sư phạm

Để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp đề xuất, luận văn đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại hai trường THCS. Quá trình thực nghiệm bao gồm các lớp đối chứng (dạy theo phương pháp truyền thống) và các lớp thực nghiệm (áp dụng các phương pháp dạy học Ngữ văn đổi mới và hệ thống bài tập thực hành đã xây dựng). Kết quả của nghiên cứu khoa học giáo dục này là minh chứng thuyết phục cho hiệu quả của các biện pháp được đề ra. Các số liệu thống kê từ bài kiểm tra của học sinh cho thấy sự tiến bộ vượt trội ở các lớp thực nghiệm. Cụ thể, bài văn của học sinh ở lớp thực nghiệm có vốn từ vựng phong phú hơn, cách diễn đạt cảm xúc sâu sắc, tinh tế hơn và sử dụng từ láy một cách sáng tạo, chính xác. Các em không chỉ đạt điểm số cao hơn mà còn thể hiện sự hứng thú, tự tin hơn trong giờ học Ngữ văn. Đây là một tín hiệu tích cực, khẳng định rằng việc đổi mới phương pháp dạy học có định hướng rõ ràng và giải pháp cụ thể sẽ mang lại những thay đổi chất lượng thực sự.

5.1. Phân tích số liệu và so sánh kết quả thực nghiệm

Luận văn trình bày chi tiết các bảng biểu so sánh điểm số trung bình, tỉ lệ bài đạt điểm giỏi, khá giữa hai nhóm lớp. Kết quả định lượng cho thấy, điểm trung bình của lớp thực nghiệm cao hơn đáng kể so với lớp đối chứng. Các bài văn của lớp thực nghiệm được giáo viên đánh giá cao về mặt cảm xúc và kỹ năng sử dụng ngôn từ. Tác giả kết luận: "Kết quả thực nghiệm đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả thực tế của các biện pháp do luận văn đề xuất." Đây là cơ sở khoa học vững chắc để nhân rộng mô hình này.

5.2. Đánh giá định tính về sự thay đổi của học sinh

Ngoài các con số, kết quả định tính cũng rất quan trọng. Thông qua phỏng vấn và quan sát, giáo viên nhận thấy học sinh ở lớp thực nghiệm trở nên tích cực, chủ động hơn trong việc tìm tòi, khám phá ngôn ngữ. Các em không còn sợ viết văn biểu cảm mà ngược lại, tỏ ra thích thú khi được thể hiện cảm xúc của mình qua những từ ngữ giàu hình ảnh. Sự thay đổi về thái độ học tập này là một thành công lớn, cho thấy các giải pháp không chỉ tác động đến kiến thức, kỹ năng mà còn khơi dậy niềm đam mê học văn ở học sinh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ giáo dục học rèn luyện kỹ năng sử dụng từ láy cho học sinh qua dạy học tạo lập bài văn biểu cảm ở thcs

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiền của đề tài. “Chương 2: Rén luyện kĩ năng sử dụng từ láy cho học sinh trong bài văn biểu cảm. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm, Chương CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA ĐÈ TÀI 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN trong tiếng Việt Trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ khác, phương thức láy là phương, thức tác động vào một hình vị rời tự thân có nghĩa (hoặe một đơn vị phức hợp có nghĩa) làm xuất hiện một hình vị láy có hình thức ngữ âm giống hoặc gần giống với nó.

Hình vị có nghĩa sẽ được gọi là hình vị cơ sở. Phương thức láy có thể tạo ra hình thái của từ, biểu thị các ý nghĩa tình thái và quan hệ ngữ pháp hoặc tạo từ mới, tức là tạo ra những từ có trúc nghĩa mới, khác so với cấu trúc của đơn vị cơ sở. Dù những trường hợp rắt ¡ có nhiều đến đâu đi nữa thì cái cơ chế trên của phương thức. lay vin giữa nguyên hiệu lực.

Hiện nay, không có từ láy thì thôi, nhưng nếu đã có thi chúng nhất thiết phải được sản sinh theo cơ chễ nói trên. 'Về vẫn để định nghĩa từ láy, từ trước tới nay còn có nhiễu ý kiến chưa thông, nhất. Diễn hình là những quan niệm sau: - Từ láy là loại từ ghép mà các thành tổ trực tiếp được kết hợp với nhau chủ yếu. theo quan hệ (Nguyễn Tài Ngữ pháp tiếng Việt, 1915).

~ Còn trong cuốn Cơ sở ngồn ngữ học và tiếng Liệt, các tác giá đưa ra quan điểm phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm cho ta các từ ly (còn gọi là tử lấp lay, tir lay âm). Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu la hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và có cả từ láy ba tiếng. Một từ sẽ được gọi là từ láy khi các thành tổ cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại, nhưng vừa có lấp (còn gọi là điệp) vừa có biển đổi (gọi là đối) Vi dụ: đỏ đắn : điệp phần âm đầu, đối ở phần vần |3, tr.146] ~ Quan niệm của giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo. phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu.

biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có ngt i a (Đỗ. Hữu Châu ~ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Viét, NXBGD, 1978), 7 ~ Quan niệm của Nguyễn Văn Tu cho rằng: những từ lấp láy gồm những âm tiết tương quan với nhau hay giống nhau về ngữ âm. Trong tiếng Việt hiện đại, có những, từ gồm hai từ tố có quan hệ về ngữ âm thường gọi bằng tên lấp láy, từ trùng điệp, từ lay am hoặc từ láy. Thực ra trong số những từ kiểu này có những từ thực sự là từ láy âm và cũng có những từ láy âm ngẫu nhiên (đất đai, tudi tác, hỏi han.

) nhưng hiện. nay về mặt quan hệ ngữ âm, chúng ta cũng gọi chung chúng là những từ láy âm. Sở dĩ chúng tôi gọi chung những từ lầy âm là những từ ghép vỉ thực chất chúng được tạo ra bởi một số từ tố với bản thân nó không bị biến âm hoặc bị biến âm. Tử ghép láy Jang lâng gồm có hai từ hoàn toàn giống nhau về âm thanh, Và từ ghép øáy móc gồm từ tổ máy kết hợp với móc là biển thể ngữ âm của máy.

Từ láy âm được tạo thành bằng việc. ghép hai từ tố hoặc hai âm tiết có quan hệ về ngữ âm trên cơ sở láy âm, trên cơ sở lầy. lại bản thân cái âm tiết chính hoặc cái từ tố chính. "Từ láy là những từ ghép vì thực chất chúng được tao ra bởi một từ tố với bản thân nó không bị biển âm hoặc bị biển âm (Nguyễn Văn Tu ~ 7 và vốn rừ tiếng Việt, 1976).

~ Từ láy được cấu tạo bằng cách nhân. \g gốc theo những quy tắc nhất định, sao_ cho quan hệ giữa các tiếng vừa điệp, vừa đối hài hòa với nhau về ngữ âm, có giá trị biểu trưng hóa (Hoàng Văn Hành, Từ ngữ tiếng Liệt trên đường hiểu biết vài khám phá, NXB KHXH, 1991) ~ Bên cạnh đó còn có quan điểm của nhiều nhà Việt ngữ khác. Theo Hữu Quynh: * Trong tiếng Việt, từ ghép theo phương thức láy có một số lượng đáng kể. thức láy là phương thức cấu tạo từ và cụm từ đặc biệt trong tiếng Việt.

(hay còn gọi là từ ghép lắp láy, từ láy) là những từ ghép gồm hai hình vị kết hợp với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm. Các thành tổ của từ ghép lay có mỗi quan hệ với nhau về thanh điệu hoặc về các bộ phận ngữ âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ngữ nghĩa nhất định. Thí dụ: nhỏ nhắn, nhỏ nhoi, nhỏ nhỏ, nhỏ nhặt, nhỏ nhen, chằm chằm, thao thao, tỉ mĩ”. Hay như trong cuỗn Ngữ pháp tiếng Liệt, các tác gid cho ring: “Tir lay đều là từ hai tiếng.

Phần lớn đó là từ gốc Việt. Có một số những từ láy gốc Hán, nhưng có thể coi chúng là đã Việt hóa, đã hòa lộn vào bộ phân từ láy gốc Việt. Ví dụ: phẳng phắt, linh lợi, bồi hồi. Từ lay được cầu tạo theo phương thức phối hợp ngữ âm.

Nói đến " sự phối hợp ngữ âm” ở đây tức là nói đến hiện tượng lặp và hiện tượng đối xứng”. 8 ~ Sách giáo khoa Tiéng Liệt lớp 4 tập 1 [39], tir lay duge định nghĩa như sau: *Từ láy là sự phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần hoặc cả âm đầu và vẫn giống nhau”. Qua xem xét rất nhiều ý kiến khác nhau về tir lay nhưng chúng tôi vẫn thấy được. sự thống nhất ở một số điểm.

Tắt cả các tác giả đều coi từ láy là từ có từ hai tiếng trở lên (thuộc nhóm từ phức); từ láy được cấu tao theo phương thức láy. C¿ c thành tố trong từ láy đều có quan hệ với nhau về ngữ âm (với thanh điệu giữ nguyên hay biến. đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biển đổi theo hai nhóm: nhóm cao. Từ láy bao gồm bai hình vị đó là hình vị gốc (còn gọi là hình vị cơ sở - đó là hình vi rõ nghĩa) và hình vi ly.

Chúng có quan hệ ngữ âm với nhau. Hình vị láy c hé lặp lại những phần trong cấu trúc triết đoạn như âm đầu, vần hoặc lặp cả âm đầu và. Hầu hết c; đều đồng ý: trong tiếng Việt phần lớn là những từ láy đôi (nghĩa là có hai âm tiết) ngoài ra còn có từ láy ba và từ láy tư, Tuy nhiên từ lấy ba va tir lay tư chủ yêu được xây dụng trên cơ sở từ lầy đôi. Hai từ tổ trong từ láy không có quan hệ với nhau về nghĩa Ví dục lơ mơ -> ta lomo Dimg dưng => đừng dừng dưng Lôi thôi => lôi thôi léch théch Hùng hồ -> hùng hùng hồ hồ Cái tồn tại hiện nay là sự phân biệt giữa từ láy và các loại từ khác.

Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những tiêu chí phân định khác nhau. Không phải là sự phân biệt giữa từ láy và các loại từ khác mà là định nghĩa về từ láy và từ có hình thức láy. Riêng đối với day học ở bậc học thấp, để phủ hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, cho phép xếp các từ không có hình vị cơ sở là tir lay. Vi du: ba ba, thuổng luồng, than lần, chôm chôm, du đủ.

Sự phân loại từ lầy Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau từ lớn đến nhỏ. Cần chú ý đến. tính đồng loạt cao của tiêu chí phân loại và thứ tự vận dụng các tiêu chí đó. Người ta.

phân loại từ lầy dựa vào hai tiêu chí sau: a. Căn cứ vào số lần tác động của phương thức lá): Phương thức láy tác động lẳn đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho ta các từ lấy đôi hay từ lay hai âm tế. Thí dụ: gọn - gọn gảng; đẹp - đẹp để, hay - hay hho, hay hém, hay hay Tiếp đó phương thức láy có thể tác đông lần thứ hai vào một tir lay đôi để cho ta từ láy bổn âm tiế. Phương thức láy 1 Phương thức lay 2 khénh ~ khdp khénh -> khắp kha kháp khénh nham - nham nhớ => nham nham nhớ nhỏ: ~ lam nham => lam nham lở nhớ.

Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vảo một hình vị một âm tiết cho ta. một từ lấy ba dm tiét. Thi du: sach -> sach sảnh sanh, tóc -> tóe tỏ loe, dưng => dừng dừng dưng "Phương thức láy cũng có thể tác động một lẫn vào một đơn vị hai âm tiết cho các từ láy tư. Nhưng các từ lầy tư này khác các từ lầy tr chân chính nói trên ở chỗ nó chỉ chịu tác động láy có một lần, như: quản áo -> quấn quân áo áo.

từng lắp ->_ từng từng lớp lớp, cười nói => cười cười nói nói. Căn cứ vào cách hòa phối ngữ âm tie lay được phân [oại thành hai kiếu lớn Láy hoàn toàn nếu toàn bộ âm tiết của từ tố cơ sở được láy lại. Láy bộ phận nếu một bộ phận ngữ âm của âm tiết từ tố cơ sở được láy lại. ~ Ở các từ láy hoàn toàn, từ tổ cơ sở thường ở sau và mang trọng âm.

Từ tổ láy ở trước và được phát âm lướt, đo đó có thể xây ra sự biễn thanh và biển vẫn theo phân tích của GS Nguyễn Tài Cẩn. Khi thanh điệu của từ tố cơ sở là thanh trắc chuyển thành thanh bằng cùng nhóm thì có sự biến thanh. Thí dụ do dé, nằng nặng. âm cuỗi của từ tổ cơ sở là /p/, /ư, /k/ thì sẽ chuyển thành /m/, /m/, /ng/.

Đó là hiện tượng biến vần. Thí dụ đêm đẹp, nhân nhạt, ang ác (anh ách). Tuy nhiên, có trường, hợp thanh trắc nhóm thấp lại được chuyển thành thanh bằng thuộc nhóm thanh cao. như: thâm thẫm (thay vì thâm trằm) đề đọc lướt từ tố lay cho dễ.

“Có những từ lầy hoàn toàn mà từ tổ láy ở trước có thanh trắc như cón con, đứng dung. Từ tổ cơ sở con, dưng. ở sau và cô thanh bằng, ~ Các từ láy bộ phận lại chia thành hai kiểu: điệp âm (lay âm) và điệp vẫn (lay van).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ