Chương 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm liên quan đến giảm nghèo 1. Khái niệm giảm nghèo - Nghèo: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được thụ hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của địa phương. - Nghèo đa chiều: Nghèo đói không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác, mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng, tiếp cận với các nguồn lực, thông tin và dịch vụ.
Như vậy nghèođói không đơn thuần là một cá thể mà nó bao gồm các yếu tố kiềm hảm cá thể đó không tiếp cận được đến các nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có. - Giảm nghèo: Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn.
- Giảm nghèo bền vững: Giảm nghèo bền vững là việc tạo điều kiện cho người nghèo có khả năng tiếp cận với 5 nội dung cơ bản đó là: y tế, giáo dục, điều kiện sống, việc làm và tiếp cận thông tin. Chỉ có thể giảm nghèo một cách bền vững khi chúng ta giải quyết được vấn đề trên, giúp cho người nghèo có nhiều cơ hội được tiếp cận với văn hóa, xã hội, thông tin và nâng cao đời sống vật chất 1. Khái niệm“chính sách công” Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn các mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện để giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội của nhà nước theo các mục tiêu tổng thể đã được xác định. Chính sách 8 công vì thế được biểu hiện trước hết là những văn bản chính sách của nhà nước có các hình thức khác nhau tương ứng với từng cấp độ khác nhau trong hệ thống quản lý nhà nước: Hiến pháp, luật, nghị quyết, nghị định, quyết định.
Khái niệm “Chu trình chính sách công” Tuy nhiên trong khoa học về chính sách công, cần phải hiểu chính sách công là một “Chu trình chính sách công” bao gồm các giai đoạn : - Soạn thảo và ban hành chính sách công, - Thực hiện chính sách công, - Đánh giá các yếu tố của việc ban hành chính sách và quá trình thực hiện chính sách công - Hoàn thiện chính sách công dựa trên các phân tích và đánh giá chính sách công. “Thực hiện chính sách công” trong chu trình chính sách công Do chính sách công là một chu trình liên hoàn và thống nhất giữa các giai đoạn của chính sách công, nên chúng ta không thể xem xét riêng rẽ từng giai đoạn của nó, mà cần xem xét tất cả các giai đoạn và các liên hệ giữa chúng với nhau như một tổng thể hay chu trình thống nhất. Tuy nhiên chúng ta cần ưu tiên xem xét hai giai đoạn đầu tiên và chủ yếu của chu trình chính sách công là giai đoạn soạn thảo - ban hành chính sách và giai đoạn thực hiện chính sách công để định hướng việc xem xét các giai đoạn còn lại. Trong chu trình chính sách công, nếu việc soạn thảo và ban hành chính sách công chủ yếu có quan hệ với các nội dung của chính sách công thì việc thực hiện chính sách công chủ yếu là triển khai các nội dung này trên thực địa ở các địa phương nhằm giải quyết các vấn đề xã hội hay mục tiêu do chính sách nêu ra.
Vì thế cấu trúc nội dung của chính sách công là khuôn khổ lý luận định hướng các hoạt động của việc thực hiện chính sách công trong thực tế. Nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 1. Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam Đầu thập niên 1990, để khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh và của mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Năm 1989, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới trong sản xuất nông nghiệp bằng cách phát triển kinh tế hộ gia đình trong nông thôn.
Công cuộc Đổi mới này đã đưa nông nghiệp nước ta nhảy vọt từ nước đang thiếu lương thực vươn lên thành nước xuất khẩu gạo, và giữ vị trí trong các nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng đặt ra những thách thức to lớn với sự phát triển của kinh tế hộ nông thôn trong bối cảnh hội nhập của đất nước vào nền kinh tế toàn cầu. Do trình độ phát triển của kinh tế giữa các hộ gia đình, giữa các cộng đồng dân tộc và các vùng còn nhiều khác biệt nên sự phát triển kinh tế của người dân vẫn còn chênh lệch đáng kể thông qua tỷ lệ đói nghèo giữa các hộ trong cùng một cộng đồng, giữa các cộng đồng và vùng trong cả nước. Tỷ lệ nghèo trong cả nước vào năm 1993 ở mức rất cao là 58%.
Vì thế ngay đầu năm 1991, vấn đề xoá đói giảm nghèo đã trở thành vấn đề trọng tâm trong chính sách xã hội của Đảng và nhà nước Việt nam từ đó đến nay. Đặc điểm căn bản của chính sách giảm nghèo của thời kỳ này là chính sách xóa đói giảm nghèo, tức là nhà nước đồng thời có các chính sách trợ giúp tiền và lương thực cho các hộ nghèo đói cùng với chính sách phát triển nông thôn như chính sách “cho vay vốn tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn” thông qua chính sách hỗ trợ phong trào xây dựng điện đường trường trạm trong nông thôn nói chung và chính sách hỗ trợ toàn diện để xây dựng cơ sở hạ tầng cho 135 xã đặc biệt khó khăn được thực hiện trong “Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000”. Chương trình mục tiêu quốc gia này được triển khai tiếp tục trong những giai đoạn tiếp theo với những nội dung ngày càng phong phú hơn và tập trung hơn vào các mục tiêu giảm nghèo ở các nhóm đối tượng đặc biệt khó khăn. Giai đoạn 2001- 10 2010, bên cạnh các chính sách hỗ trợ về kinh tế như hỗ trợ công cụ và đất sản xuất, là các chính sách hỗ trợ cho vay vốn sản xuất, các chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và giới thiệu các mô hình xóa đói giảm nghèo hiệu quả, nhà nước cũng ban hành các chính sách hỗ trợ ngoài kinh tế, đảm bảo tính chất bền vững cho công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Đó là các chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục và an sinh xã hội, các chương trình hỗ trợ về dạy nghề và giới thiệu việc làm, hỗ trợ về nhà ở, nước sạch, v. Theo tính toán của Tổng cục Thống kê trên cơ sở sử dụng chuẩn nghèo tính theo chỉ tiêu của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ nghèo đã giảm liên tục trong vòng khoảng hai thập kỷ, từ 58 phần trăm năm 1993 xuống còn 37,4 phần trăm năm 1998, 28,9 phần trăm năm 2002, 16 phần trăm năm 2006 và 14,5 phần trăm năm 2008 và nhờ đó mà khoảng gần 30 triệu người đã thoát nghèo trong giai đoạn này. Đây là thành tựu rất ấn tượng đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Mặc dù đã có những thành tựu lớn lao trong chính sách giảm nghèo, song sự cải thiện về mức sống lại cho thấy có sự không đồng đều giữa các khu vực nông thôn và đô thị, giữa các vùng đồng bằng và miền núi hay giữa các cộng đồng dân cư đa số và thiểu số.
Khu vực nông thôn chậm giảm nghèo hơn vì khả năng chuyển đổi cơ cấu kinh tế chậm và giá trị thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hơn nhiều so với công nghiệp và dịch vụ. Các cộng đồng dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo tăng lên do thiếu khả năng chuyển đổi sinh kế và kết nối thị trường toàn quốc thấp. Năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo của người H’mong lên tới 83,4%, tỷ lệ này của các dân tộc ở Tây nguyên lên tới 75,2% Những phân tích về nguyên nhân nghèo của thời kỳ này cho thấy ngày càng đa dạng hơn so với trước đổi mới. Nguyên nhân của sự chênh lệch trong phúc lợi xã hội giữa các vùng dân tộc thiểu số với các vùng của người Kinh là do cả sự chênh lệch về nguồn lực (bao gồm cơ cấu hộ gia đình, trình độ giáo dục, sở hữu đất đai, các đặc điểm ở cấp xã), và chênh lệch trong hiệu quả sử dụng nguồn lực, mỗi nhóm nguyên nhân gây ra 50 phần trăm chênh lệch về phúc lợi.
Do đó, để giúp đồng bào 11 dân tộc thiểu số tăng cường sự tham gia và hưởng lợi từ tiến trình tăng trưởng, các giải pháp cần hướng đến việc tăng cường nguồn lực cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số. Sự tiếp cận đa chiều đối với các nguyên nhân nghèo đa chiều này đã góp phần định hướng các chính sách giảm nghèo ở Việt nam từ năm 2011 theo hướng chính sách giảm nghèo đa chiều hay giảm nghèo bền vững. Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015. Theo quyết định này: + Chuẩn nghèo đa chiều: Khái niệm nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phí thu nhập.
Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản [1]. Chương trình MTQG giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011-2020) và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội (2016-2020) đây là giai đoạn áp dụng triệt để các tiêu chí giảm nghèo đa chiều trong các chính sách giảm nghèo để đi tới giảm nghèo bền vững.