phần mở đầu, mục lục, kết luận và phần phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Các giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.
16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Tổng quan về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số 1. Khái niệm về nghèo, giảm nghèo bền vững Nghèo đói là vấn đề kinh tế xã hội mang tính toàn cầu. Đói nghèo là nỗi bất hạnh và một phi lý lớn, trong khi nền văn minh thế giới đã đạt đƣợc những thành tựu về tiến bộ khoa học công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vƣợt bậc sự giàu có cho con ngƣời, thế mà thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lƣng con ngƣời lại vẫn là sự nghèo đói.
Bởi vậy, thời gian qua Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động giảm nghèo bền vững cả về phƣơng diện lý luận và thực tiễn. Trong đó, quan niệm đói nghèo của Việt Nam khá phong phú, đƣợc xác định đây là một vấn đề trọng tâm, đƣợc thay đổi và ngày càng gần với quan niệm đói nghèo của thế giới, ở tiêu chí để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản, kéo theo quan điểm về đói nghèo mang tính động phụ thuộc vào tính chất không gian, thời gian, của từng giai đoạn phát triển KTXH ở địa phƣơng hay quốc gia. Do đó, nghèo có 2 dạng: nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. Nghèo tuyệt đối thƣờng dùng để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống tối thiểu.
Theo loại nghèo này đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đình trong mối quan hệ với đƣờng nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian. Nghèo tuyệt đối đƣợc tính dựa trên nhu cầu dinh dƣỡng và một số hàng hóa khác, vì vậy, một đƣờng nghèo tuyệt đối dùng để so sánh các nghèo đói. “Nghèo tương đối thường dùng để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/hộ gia đình so với mức sống trung bình đạt được” [27, tr. Sự thiếu này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với mức thu 17 nhập bình quân của dân cƣ, có nhiều quốc gia xác định dựa trên ½ thu nhập bình quân.
Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con thƣờng thất học, ốm đau không có tiền chữa trị, nhà ở không đủ che mƣa che nắng. Nghèo là một bộ phận dân cƣ vẫn còn thiếu ăn, nhƣng không đứt bữa, mặc không đủ ấm, nhà ở chủ yếu là tranh tre, không có hoặc không đủ điều kiện để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và đáp ứng nhu cầu về học tập chữa bệnh cũng nhƣ các nhu cầu xã hội khác. Ngƣời nghèo là những ngƣời có mức sống bấp bênh không tiếp cận với điều kiện vật chất và dịch vụ để có đƣợc một cuộc sống ấm no. Họ thiếu các điều kiện đảm bảo nhu cầu tối thiểu của con ngƣời về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành và chăm sóc sức khỏe.
Khả năng tiếp cận với các kết cấu hạ tầng và các nguồn lực xã hội kém. Họ thƣờng thiếu tự tin và dễ bị tổn thƣơng. Họ ít có điều kiện tham gia vào các quyết định của địa phƣơng và tăng trƣởng, phát triển KTXH. Để xác định ngƣời nghèo cần căn cứ vào sổ chứng nhận hộ nghèo.
Ngƣời nghèo là ngƣời có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/ sổ theo dõi quản lý hộ nghèo. Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân trên đầu ngƣời trên tháng nhỏ hơn hoặc bằng chuẩn nghèo. Để xác định hộ nghèo còn phải căn cứ vào tình trạng nhà ở và giá trị tài sản và phƣơng tiện sản xuất (nhà ở tạm bợ, tài sản không có giá trị, thiếu phƣơng tiện sản xuất). Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân trên đầu ngƣời trên tháng từ trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130% chuẩn nghèo.
Xã nghèo: là xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, vùng ven biển và hải đảo (Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/5/2002). Huyện nghèo: Theo Quyết định 2115/QĐ-TTg, Ngày 07/11/2006, ban hành tiêu chí huyện nghèo giai đoạn 2017-2020 là huyện thỏa mãn các tiêu chí: tỷ lệ hộ nghèo hộ cận nghèo, thu nhập bình quân đầu ngƣời trên địa bàn huyện, tỷ lệ số xã 18 ĐBKK trong tổng số xã của huyện khu vực miền núi vùng cao hay khu vực khác, số hộ DTTS trong tổng số hộ dân cƣ của huyện. Nghèo đa chiều: Nghèo đói không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác, mà nghèo đói còn đƣợc gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng, tiếp cận với các nguồn lực, thông tin và dịch vụ. Nhƣ vậy, nghèo đói không đơn thuần là một cá thể mà nó bao gồm các yếu tố kìm hãm cá thể đó không tiếp cận đƣợc đến các nguồn lực hoặc không biết hoặc không thể tìm ra giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng đó [54].
Giảm nghèo bền vững là việc tạo điều kiện cho ngƣời nghèo có khả năng tiếp cận với 5 nội dung cơ bản: y tế, giáo dục, điều kiện sống, làm việc và tiếp cận thông tin. “Chỉ có thể giảm nghèo bền vững khi chúng ta giải quyết các vấn đề trên, giúp cho người nghèo có nhiều cơ hội tiếp cận với văn hóa, xã hội, thông tin và nâng cao đời sống vật chất”[20, tr. Dựa trên những quan điểm về nghèo đã đƣợc trình bày ở trên, theo tác giả, cho đến nay vẫn chƣa có một quan niệm thống nhất về GNBV, về cơ bản để giải quyết giảm nghèo cần phải đảm bảo hai mặt: giảm nghèo cả về số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng giảm nghèo sẽ là số hộ nghèo giảm đƣợc trong một thời gian nhất định, còn chất lƣợng giảm nghèo là khái niệm dùng để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt đƣợc là đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời nghèo đƣợc nâng lên, khi gặp rủi ro, biến cố sẽ không rơi lại vào tình trạng tái nghèo, hay nói cách khác, chất lƣợng giảm nghèo chính là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.
Nhƣ vậy, nên hiểu GNBV chính là tình trạng dân cƣ đạt đƣợc mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì đƣợc mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên chuẩn nghèo đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro, là đảm bảo duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài và bền vững, tránh phải tình trạng luẩn quẩn “nghèo – thoát nghèo – tái nghèo”. Đồng thời, chính sách GNBV là tập hợp các quyết định của Chính phủ nhằm đƣa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải 19 quyết các vấn đề cải thiện đời sống, vật chất và tinh thần đối với ngƣời nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch và mức sống giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng, miền, các nhóm dân tộc và các nhóm dân cƣ, để thực hiện mục tiêu GNBV của các nƣớc. Các tiêu chí xác định chuẩn nghèo đơn chiều và chuẩn nghèo đa chiều Xác định đƣợc mức độ giàu nghèo là một việc khá phức tạp vì nó gắn với từng thời kỳ, từng quốc gia và đƣợc xem xét ở nhiều tiêu chí, chuẩn mực đánh giá khác nhau, đó là: PQLI-là chỉ tiêu chất lƣợng cuộc sống (tuổi thọ, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và tỷ lệ mù chữ), HDI- là chỉ tiêu phát triển con ngƣời (tuổi thọ, tình trạng biết chữ của ngƣời lớn, thu nhập bình quân đầu ngƣời trong năm), chỉ tiêu nhu cầu dinh dƣỡng (mức tiêu dùng quy ra kilocalo cho một ngƣời trong một ngày), chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân theo đầu ngƣời (Ngân hàng thế giới- WB đƣa ra chuẩn mực nghèo khổ chung toàn cầu là thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới 370 USD/ngƣời/năm, với tiêu chí này, Việt Nam xếp thứ 14 trong số 20 nƣớc nghèo nhất với 2600 USD/ngƣời/năm). Chuẩn nghèo là thƣớc đo nhằm xác định ai là ngƣời nghèo hoặc không nghèo để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nƣớc, nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo.
Ở Việt Nam, căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phƣơng, trình độ phát triển KTXH, qua 7 lần nƣớc ta điều chỉnh chuẩn nghèo theo hƣớng ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của ngƣời nghèo. Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia: Bảng 1. Chuẩn nghèo theo thu nhập [nguồn tác giả tự tổng hợp] Năm Chuẩn nghèo ( Đơn vị tính: nghìn đồng) Thành thị Nông thôn 1994 102 76 1999 146 112 2004 163 124 20 2008 370 290 Từ 2010 đến 2015 chuẩn nghèo đã có sự thay đổi theo chuẩn mới của Chính phủ giai đoạn 2010-2015 2010 500 400 2011 600 480 2012-2015 660 530 Từ 2016 đến 2020 chuẩn nghèo đã có sự thay đổi từ đơn chiều sang đa chiều theo chuẩn mới của Chính phủ giai đoạn 2016-2020 2016-2020 900 700 Từ 2021 đến 2025 chuẩn nghèo đã có sự thay đổi theo chuẩn mới của Chính phủ giai đoạn 2021-2025 2021-2025 1500 2000 Chuẩn nghèo giai đoạn 1993-1995: Hộ đói có thu nhập bình quân thu nhập đầu ngƣời quy theo gạo/tháng dƣới 13kg đối với thành thị, dƣới 8kg đối với khu vực nông thôn. Hộ nghèo có thu nhập bình quân đầu ngƣời quy theo gạo/tháng dƣới 20 kg đối với thành thị, dƣới 15 kg đối với khu vực nông thôn.
Chuẩn nghèo giai đoạn 1995-1997: Hộ đói có mức thu nhập bình quân một ngƣời trong hộ một tháng quy ra gạo dƣới 13kg, tính cho mọi vùng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập vùng nông thôn, đồng bằng, trung du dƣới 20kg/ngƣời/tháng. Vùng thành thị với định mức dƣới 25kg/ngƣời/tháng. Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dƣới 15kg/ngƣời/tháng.
Chuẩn nghèo giai đoạn 1997-2000: Hộ đói có mức thu nhập bình quân một ngƣời trong hộ một tháng quy ra gạo dƣới 13kg, tƣơng đƣơng 45 ngàn đồng (giá năm 1997).