chương 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Vốn đầu tư gián tiếp Theo điều 3 luật đầu tư của Việt Nam được thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7/2006 đã xác định: “đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Theo cách hiểu này, đầu tư gián tiếp nước ngoài (ĐTGTNN) là các khoản đầu tư gián tiếp do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện (để phân biệt với đầu tư gián tiếp trong nước do các nhà đầu tư trong nước thực hiện), thông qua 2 hình thức chủ yếu sau: - Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát hành trên thị trường tài chính. - Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính. Cách hiểu này là sát gần với định nghĩa của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment – FPI) là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được phát hành bởi một công ty hoặc cơ quan chính phủ của một nước khác trên thị trường tài chính trong nước hoặc nước ngoài.
Như vậy có thể thấy đầu tư gián tiếp nước ngoài là một khái niệm khá mới mẻ, nhất là ở nước ta, vì chúng xuất hiện và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán nội địa và quốc tế.1 Đặc trưng cơ bản của đầu tư gián tiếp nước ngoài - Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 16 - Nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong FDI. Đầu tư gián tiếp nước ngoài là đầu tư tài chính thuần tuý trên thị trường tài chính.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài - Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ chảy mạnh vào trong nước theo mức tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó. - Chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển và độ mở cửa thị trường chứng khoán, chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và nhà nước phát hành, cũng như các chứng khoán có giá khác lưu thông trên thị trường tài chính; sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước hết là các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các quỹ đầu tư đại chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên); sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán.
- Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hoà bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài; mức độ tự do hoá và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước; sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị trường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Tác động hai mặt của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài –FPI Những tác động tích cực Xu hướng quốc tế hoá đang diễn ra trên toàn thế giới, trong mọi lĩnh vực và TTCK không là ngoại lệ. Các nhà ĐTNN tham gia vào TTCK thông qua hình thức đầu tư gián tiếp, đây là một hình thức đầu tư quốc tế rất quan trọng. Với vai trò là một đối tượng tham gia vào TTCK, họ có những tác động khá tích cực đến sự phát triển đời sống kinh tế nước ta, thể hiện ở các điểm sau: Thứ nhất, góp phần làm tăng nguồn vốn trên thị trường nội địa và làm giảm chi phi vốn thông qua đa dạng hóa rủi ro.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường vốn trong nước, tạo động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn đầu tư bởi các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương” các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài để đầu tư, kết quả tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên, và sẽ kéo theo sự gia tăng nguồn vốn nội địa. Thứ hai, với tiềm lực tài chính mạnh, các nhà ĐTNN sẽ góp phần tích cực vào phát triển hệ thống tài chính nội địa, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường. Việc gia tăng và phát triển bộ phận thị trường vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ làm cho thị trường tài chính Việt Nam (đặc biệt là TTCK) trở nên đồng bộ, cân đối và sôi động hơn, khắc phục được sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng, thậm chí đơn điệu, kém hấp dẫn kéo dài của thị trường này trong thời gian qua. Bởi nếu muốn gia tăng tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài thì nước sở tại phải tìm cách phát triển cơ sở hạ tầng và cấu trúc thượng tầng như phải xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng, phải minh bạch hoá thông tin, phải chống tham nhũng hiệu quả, phải xây dựng được chất lượng hàng hoá trên TTCK sao cho phong phú và đa đạng,… Có như vậy, thì mới giữ chân và thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài sao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 18 Như vậy, tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể thị trường tài chính nói riêng, các thể chế và cơ chế thị trường nói chung trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam.
Thứ ba, góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài yêu cầu chính phủ và các cơ quan Trung Ương phải chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của mình theo nguyên tắc thị trường hơn, trong đó có việc sử dụng bảo lãnh nhà nước, quy định tỷ lệ và sử dụng các công cụ dự phòng, dư nợ cũng như các công cụ khác của các định chế tài chính – tiền tệ quốc gia và địa phương. Tất cả những điều này là cần thiết để đảm bảo sự thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế.
Đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài chính, nhà nước sẽ đa dạng hoá các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp. Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện hơn. Một số tác động tiêu cực Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, việc gia tăng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam có thể gây ra một số tác động tiêu cực sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 19 Thứ nhất, hệ thống tài chính trong nước dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng tài chính một khi gặp phải các cú sốc từ bên trong cũng như bên ngoài nền kinh tế. Khác với nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư có tính chất lâu dài chủ yếu dưới dạng vật chất (xây dựng nhà máy, mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất), khó chuyển đổi hoặc thanh khoản, trong khi đó vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần tuý với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao.
Chính vì đặc trưng cơ bản này mà khi thị trường bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu bất ổn hoặc có những “cú sốc” từ thị trường thế giới sẽ làm các nhà đầu tư dễ mất niềm tin và “rút vốn tháo chạy”, có nghĩa là họ bán tháo chứng khoán với giá sàn để rút vốn ra khỏi thị trường càng sớm càng tốt. Điều này cộng với “tâm lý bầy đàn” vốn có của thị trường tài chính, nhà đầu tư này bán thì nhà đầu tư khác cũng bán theo do phản ứng dây chuyền, làm sóng đô-mi-nô của các nhà đầu tư quốc tế như đã từng diễn ra trong cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á năm 1997 là một ví dụ điển hình nhất. Trong tình huống như vậy, một sự đổ vỡ, một cuộc khủng hoảng đầu tư – tài chính – tiền tệ, thậm chí là khủng hoảng kinh tế hết sức tệ hại và bất khả kháng là hoàn toàn có thể xảy ra đối với nước tiếp nhận đầu tư, nếu không có và triển khai tốt các phương án phòng ngừa hiệu quả, sẽ làm cho toàn bộ dòng vốn nước ngoài bị đảo ngược và hậu quả là thị trường sẽ sụp đổ. Thứ hai, làm gia tăng nguy cơ bị mua lại, sáp nhập, khống chế và lũng đoạn tài chính đối với các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán.