Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề cơ bản về tín dụng nông nghiệp nông thôn 1. Khái niệm tín dụng Từ “tín dụng” xuất phát từ chữ la tinh – credo có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Trong thực tế, thuật ngữ tín dụng được dùng để phản ánh các hành vi kinh tế như: bán chịu hàng hóa, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc.
Có rất nhiều khái niệm về tín dụng, theo Ngô Hướng và Tô Kim Ngọc (2001), tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thể hiện quan hệ tín dụng phát sinh giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng là người cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản trong một thời gian đã thỏa thuận, với cam kết là khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi đúng hạn. (Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc, 2012) Theo các khái niệm về tín dụng và tín dụng ngân hàng trên đây đều cho thấy các đặc trưng của tín dụng là: có mối quan hệ chuyển nhượng mang tính tạm thời; có tính hoàn trả; dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người cho vay và người đi vay. Phân loại tín dụng Để phân loại tín dụng, người ta dựa vào các căn cứ khác nhau như: Căn cứ theo thời hạn vay, căn cứ vào chủ thể tham gia vay vốn, căn cứ vào hình thức bảo đảm, căn cứ vào phương thức cho vay, căn cứ vào mục đích sử dụng vốn.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản cho vay mà thời hạn không quá 12 tháng nhằm đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn như: Bổ sung ngân quỹ, đảm bảo nhu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân. - Tín dụng trung và dài hạn: Là khoản cho vay có thời hạn vay trên một năm, c 9 thường áp dụng trong cho vay đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến thiết bị công nghệ. Nó thường được sử dụng để tái sản xuất theo chiều rộng hoặc chiều sâu. Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng - Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hóa trong đó người cho vay là người bán chịu.
- Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng và các chủ thể kinh tế khác trong xã hội. Trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Đây là hình thức tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm thông qua vai trò trung gian của ngân hàng thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn. Tín dụng ngân hàng còn được sử dụng như công cụ để phát triển kinh tế theo yêu cầu của Chính phủ.
- Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể kinh tế khác trong xã hội. Trong đó nhà nước là người đi vay bằng cách phát hành trái phiếu, tín phiếu. - Tín dụng doanh nghiệp: Là quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các doanh nghiệp và công chúng. Quan hệ vay mượn này được thể hiện dưới hai hình thức: + Quan hệ tín dụng tiêu dùng: Là tín dụng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, trong đó các tổ chức thương nghiệp lớn là người cho khách hàng của mình vay bằng cách cho phép họ sử dụng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng nhất định mà không phải trả tiền ngay trong một khoảng thời gian nhất định.
+ Quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và công chúng: Doanh nghiệp là người có nhu cầu đầu tư, huy động vốn trực tiếp bằng cách phát hành các loại trái phiếu trên thị trường vốn. Người mua trái phiếu là người cho vay. Căn cứ vào hình thức đảm bảo nợ vay - Tín dụng tín chấp: Là hình thức cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng hoặc uy tín của người thứ ba. - Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản: Là hình thức cho vay mà bên vay phải sử dụng tài sản để đảm bảo nợ vay thông qua thế chấp, cầm cố, bảo lãnh bằng tài sản c 10 Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng phải thực hiện tất cả thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết một hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức: Là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng thỏa thuận một hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định. - Cho vay theo dự án đầu tư: Là phương thức cho vay để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. - Cho vay hợp vốn: Là phương thức cho vay mà nhiều ngân hàng cùng cho vay đối với một nhu cầu vốn của cùng một khách hàng trong đó có một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp phối hợp các ngân hàng khác cùng thực hiện. - Cho vay trả góp: Là phương thức cho vay mà khi vay vốn ngân hàng và khách hàng thỏa thuận số lãi vay và vốn vay được chia ra trả theo nhiều kỳ trong thời hạn cho vay.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thỏa thuận chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay - Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như: nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Đây là loại cho vay đòi hỏi lượng đầu tư vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài và chứa đựng nhiều rủi ro, do đó, lãi suất trong lĩnh vực này thường cao, lợi nhuận thu được cũng tương đối lớn. - Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại.
Đây là loại phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn, thu hút được nhiều đối tượng có nhu cầu về vốn. - Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các khoản chi phí như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc. Đối tượng vay chủ yếu c 11 là các hộ nông dân, hợp tác xã. Cho vay nông nghiệp mang tính thời vụ.
- Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác. Loại cho vay này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh số cho vay của các ngân hàng. Đặc điểm tín dụng nông nghiệp nông thôn 1. Đặc điểm về nguồn vốn Nguồn vốn cho vay nông nghiệp nông thôn được hình thành từ các nguồn sau: Nguồn vốn tự có và huy động của các tổ chức tín dụng theo quy định.
Nguồn vốn tự có được hình thành do các chủ sở hữu ngân hàng đóng góp, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn cua NHTM nhưng đóng vai rò quan trọng trong việc quyết định năng lực tài chính, quy mô hoạt động, khả năng cạnh tranh của một NHTM. Vốn huy động là vốn thuộc sở hữu các chủ thể trong nền kinh tế được ngân hàng tạm thời quản lý, sử dụng trong khoảng thời gian nhất định sẽ hoàn trả cho các chủ sử hữu.Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM, là nguồn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Vốn vay, vốn nhận tài trợ, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Vốn vay hình thành từ các nguồn đi vay các tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước; vay Tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; vay Ngân hàng Nhà nước.
Vốn nhận tài trợ gồm các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước. Vốn nhận ủy thác hình thành từ các nguồn nhận ủy thác để cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Nguồn vốn ủy thác của Chính phủ để cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. c 12 Nguồn vốn từ ngân sách chuyển sang để cho vay phục vụ nông nghiệp nông thôn.
Nguồn vốn hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ. Nguồn vốn tăng thêm do NHNN sử dụng các công cụ nhằm hỗ trợ cho hoạt động của một số NHTM (Ngân hàng Chính sách xã hội, Agribank, NHTM cổ phần nông thôn…) như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, quy định về lãi suất, tái cấp vốn… 1. Đặc điểm về hoạt động cho vay Đối tượng được vay vốn Các đối tượng được vay vốn được tổng hợp và thể hiện qua bảng sau: Bảng 1.1: Các đối tượng được vay vốn TT Các đối tượng được vay vốn 1. Cá nhân, hộ gia đình cư trú trên địa bàn nông thôn hoặc có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp 2.
Hộ kinh doanh hoạt động trên địa bàn nông thôn 3. Chủ trang trại 4. Tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trên địa bàn nông thôn hoặc tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp 5. Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn, ngoại trừ các đối tượng sau: Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, doanh nghiệp khai khoáng, các cơ sở sản xuất thủy điện, nhiệt điện … nằm trong khu công nghiệp, khu chế xuất 6.
Doanh nghiệp cung cấp vật tư nông nghiệp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm, phụ phẩm nông nghiệp (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ chính sách, 2017) Trên đây là các đối tượng được vay vốn trên địa bàn nông thôn nhằm phục vụ việc phát triển nông nghiệp, nông thôn.