LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài Hòa nhập cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế của các nước trong khu vực, đất nước Lào đang từng bước đổi mới nền kinh tế của mình để đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện tốt hơn. Tuy nhiên cũng giống như các nước đang phát triển khác, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư… Vì vậy, một bộ phận dân cư của Lào do nhiều nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với sự thay đổi, gặp khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo. Xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và khẳng định nghèo đói ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định chính trị, kinh tế và môi trường, Đảng và Nhà nước Lào coi xoá đói giảm nghèo là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Xoá đói giảm nghèo là một nội dung trọng tâm và xuyên suốt trong chiến lược phát triển của mình. Lào đã xây dựng chiến lược quốc gia cho tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo. Cho đến nay nhìn chung đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, tạo được sự đồng thuận trong xã hội, góp phần ổn định chính trị, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế của đất nước. Rất nhiều nỗ lực của Chính Phủ, các địa phương, các tổ chức quốc tế đang được tập trung cho xoá đói giảm nghèo.
Trong đó tín dụng được coi là một trong những giải pháp cơ bản không những ở Lào mà nhiều quốc gia đang phát triển khác thực hiện. Trong những năm vừa qua, chính sách tín dụng đã có tác dụng to lớn trong việc xoá đói giảm nghèo, đại đa số hộ được vay vốn cho rằng, vốn vay có tác dụng tích cực tới giảm nghèo. Nhiều hộ nông dân đã thoát khỏi nghèo, có điều kiện mua sắm thêm các phương tiện sản xuất và tiêu dùng. Tỉnh Xiêng Khoảng là một tỉnh mà đại đa số làm nghề nông tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao.
Hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng cho hộ nông dân nghèo đã góp phần không nhỏ cho công cuộc xoá đói giảm nghèo. Trong đó NH CSXH là 2 một tổ chức tín dụng chính thống có vai trò quan trọng đặc biệt trong toàn bộ hệ thống tín dụng vi mô cho xoá đói giảm nghèo. Mặc dù, đã và đang nỗ lực rất lớn, cơ chế ngày càng hoàn thiện hơn, thủ tục vay vốn ngày càng thông thoáng, đơn giản để người nghèo tiếp cận với đồng vốn dễ dàng hơn. Tuy nhiên, còn có rất nhiều vấn đề nảy sinh cả từ phía người cho vay và người đi vay như: cho vay không đúng đối tượng; mức vốn vay, thời hạn cho vay còn hạn chế và chưa phù hợp với từng đối tượng, từng mục đích; hiệu quả sử dụng vốn vay thấp… Vì vậy, những kết quả đạt được chưa tương xứng với nguồn lực bỏ ra, tác động của vốn tín dụng đối với hộ nghèo còn thấp.
Với kỳ vọng công cụ tín dụng cho hộ nghèo ngày càng phát huy thế mạnh, góp phần nhiều hơn nữa trong việc thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo của cả nước nói chung, của tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Tỉnh Xiêng Khoảng” làm luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá hoạt động tín dụng cho hộ nghèo của NH CSXH chi nhánh Tỉnh Xiêng Khoảng, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc cho vay đối với hộ nghèo từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tín dụng đối với hộ nghèo. - Đánh giá thực trạng cho vay đối với hộ nghèo có xem xét đến (trong một chừng mức nhất định) tác động của vốn tín dụng đối với xoá đói giảm nghèo của các hộ nghèo vay vốn tại NH CSXH trên địa bàn Tỉnh Xiêng Khoảng.
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của NH CSXH. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cho vay đối với hộ nghèo.
3 Phạm vi nghiên cứu. - Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh đối với hộ nghèo của NH CSXH có đề cập đến (trong một chừng mực nhất định), kết quả sử dụng vốn vay và tác động của vốn vay tới hộ nghèo ở Tỉnh Xiêng Khoảng. - Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn Tỉnh Xiêng Khoảng. - Về thời gian: Các thông tin, số liệu phán ánh trong luận văn tập trung chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến cuối năm 2010 và đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo.
Phương pháp nghiên cứu. Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài, cần phải có phương pháp nghiên cứu một cách phù hợp, cụ thể nhằm đạt được kết quả tốt nhất, phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu. Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê kinh tế; phương pháp chuyên khảo; phương pháp chuyên gia; phương pháp thực nghiệm; phương pháp toán kinh tế…, trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau: 4. Phương pháp thống kế kinh tế Đây là phương pháp nghiên cứu đặc biệt quan trọng, sử dụng thường xuyên đối với nghiên cứu khoa học.
Sử dụng phương pháp này giúp cho nhà nghiên cứu có được tài liệu, số liệu về vấn đề nghiên cứu cũng như các vấn đề liên quan. Từ đó, tổng hợp, hệ thống hoá tài liệu, và phản ánh, phân tích tài liệu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Phương pháp thống kê kinh tế bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, thích ứng cho từng giai đoạn thu thập, xử lý và phân tích tài liệu. Phương pháp thu thập tài liệu.
Những thông tin phục vụ cho nghiên cứu chủ yếu được thu thập từ 2 nguồn tài liệu: tài liệu thứ cấp và tài liệu sơ cấp. Đối với tài liệu thứ cấp: - Về nội dung của các tài liệu: Các tài liệu thu thập có thông tin phù hợp với các nội dung đề tài và các vấn đề liên quan phục vụ nghiên cứu như: + Thông tin về lý luận (khái niệm, vai trò, xu hướng, nhân tố ảnh hưởng, chủ trương chính sách…) + Thông tin thực tiễn (trên thế giới, trong nước, các vùng, địa phương) + Thông tin về địa bàn nghiên cứu (tự nhiên, kinh tế xã hội, kết quả hoạt động kinh tế xã hội …) - Về nguồn tài liệu: Các tài liệu thu thập thông qua một số nguồn sau: + Đường lối chủ trương chính sách của Nhà nước + Sách lý luận (Giáo trình, sách chuyên khảo, báo, tạp chí chuyên ngành). + Số liệu thống kê các cấp (Tổng cục thống kê, cục thống kê, phòng thống kê) + Công trình khoa học (của các cấp, luận văn, luận án) + Mạng internet + Báo cáo của các địa phương, cơ quan ban ngành, cơ sở) Các nguồn tài liệu này dùng để tham khảo và sử dụng mang tính kế thừa hợp lý trong luận văn tốt nghiệp. Đối với tài liệu sơ cấp: - Số liệu thu thập được phán ánh những nội dung chủ yếu sau: trình độ, nhân khẩu, lao động, đất đai, tài sản, tình hình vay vốn (vay hay không, nguồn nào, thông qua tổ chức đoàn hội nào, tại sao vay, vay bao nhiêu, được vay bao nhiêu, thời hạn vay, lãi suất vay, thời gian vay, mục đích vay, nợ.), thu nhập, nguyện vọng, các ý kiến đánh giá của hộ.
- Phương pháp thu thập: Để thu thập được các thông tin trên, tôi sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu Phương pháp chọn mẫu của cuộc điều tra này là phương pháp chon mẫu phân loại. Tỉnh Xiêng Khoảng có 8 huyện và 1 thị xã ở 2 địa hình khác nhau là vùng có địa hình cao và địa hình thấp, vì vậy để bảo đảm tính đại diện tôi chọn 03 địa phương là huyện Mường Khăm (địa hình thấp), huyện Nỏng Hẹt (địa hình cao) và 5 thị xã Phôn Xa Vẳn đại diện cho cả 2 vùng. Các địa phương ở 2 vùng có những đặc thù về sinh thái, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên nó sẽ quyết định đến mục đích sử dụng vốn vay, tác động của vốn tín dụng đối với các hộ nghèo. Địa phương có địa hình thấp thì thời tiết nóng nhất tỉnh, còn địa phương có địa hình cao thì khí hậu lạnh nhất tỉnh.
Vì thế, cả hai vùng có những thuận lợi và khó khăn khác nhau trong đời sống và sản xuất. Trên cơ sở đó, mỗi huyện tôi chọn 30 hộ nghèo, tổng cộng là 90 hộ nghèo theo danh sách hộ nghèo do Ban XĐGN các huyện và thị xã quản lý, 90 hộ này phải đại diện cho các bản ở các huyện. + Huyện Mường Khăm: Nằm tiếp giáp với thị xã phôn xa vẳn, tiếp giáp với huyện Nỏng Hẹt, đây là một huyện chủ yếu làm nông nghiệp và trồng trọt. Qua báo cáo điều tra thì huyện có 7.592 hộ với tổng số nhân khẩu là 49.982 người (Số nhân khẩu/hộ là 6,59); tổng số hộ nghèo là 5584 hộ, chiếm 7,69 % tổng số hộ.
+ Thị xã Phôn Xa Vẳn: Nằm ở trung tâm tỉnh, có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội.780 hộ với tổng số nhân khẩu là 72.015 người (Số nhân khẩu/hộ là 5,64); tổng số hộ nghèo theo điều tra mới là 388 hộ chiếm 3,04% tổng số hộ. + Huyện Nỏng Hẹt: Là huyện cũng phần đa làm nông nghiệp, tiếp giáp huyện Mường Khăm và tiếp giáp với cửa khẩu Quốc tế Nẩm CắnViệt Nam - Lào. Cho nên trao đổi buôn bán diễn ra thuận lợi và phát triển nghề thương nghiệp.727 nhân khẩu (số nhân khẩu/hộ: 7,2); tổng số hộ nghèo là 1.082 hộ chiếm 20,62 % tổng số hộ. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác để thu thập thông tin sơ cấp như: phương pháp tổng kết hộ điển hình, phỏng vấn các đối tượng khác có liên quan đến việc cho vay đối với hộ nghèo nhằm tạo ra nhiều kênh thông tin hơn đối với nội dung nghiên cứu.