Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước và các quy định của TPP về doanh nghiệp nhà nước. Chương 2: Thực trạng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trên thị trường. Chương 3: Giải pháp đổi mới cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trong điều kiện Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA TPP VỀ DNNN 1.
Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp. Từ trước đến nay, đã có khá nhiều định nghĩa, các quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Theo Whish cho rằng: “Cạnh tranh là sự đấu tranh, ganh đua để đạt được sự nổi trội và trong thương mại có nghĩa là sự ganh đua để giành khách hàng và giao dịch của các chủ thể trên thị trường”. Whish cũng viện dẫn thêm luận điểm của Ủy ban Cạnh tranh Vương Quốc Anh (The UK Competition Commission) cho rằng: “Cạnh tranh là một quá trình ganh đua giữa các hãng.
nhằm giành lấy phần thắng trong các giao dịch đối với khách hàng”. Theo Từ điển Bách Khoa của Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. (Hội đồng quốc gia 1995, tr. Theo quan điểm này, cạnh tranh có thể diễn ra giữa nhiều chủ thể khác nhau nhằm mục đích giành được lợi ích tốt nhất.
Tuy nhiên, cạnh tranh chịu sự tác động của mối quan hệ cung - cầu. Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm thì cho rằng: “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hoặc/ và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh của mình”. (Tôn Thất Nguyễn Thiêm 2004, tr. Từ những định nghĩa trên, có thể tiếp nhận cạnh tranh như sau: Thứ nhất, nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.
Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm, một dự án). Một loạt điều kiện có lợi (một thị trường, một khách hàng, v. Mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh. Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: cạnh tranh bằng đặc tính về chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá sản phẩm (chính sách định giá thấp, chính sách định giá cao, chính sách định giá ổn định, định giá theo thị trường, chính sách giá phân biệt, bán phá giá, cạnh tranh bằng nghệ thuật phân biệt sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán, v.) Với cách tiếp cận trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế (quốc gia, ngành hay doanh nghiệp) ganh đua với nhau, tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Như vậy về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong việc giải quyết lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và chi phối thị trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác nhau. Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiều chi phối của quan hệ sản xuất giữ vị trí thống trị xã hội, nó có quan hệ hữu cơ với các quy luật kinh tế khác: như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu.
Đây là một đặc trưng gắn với bản chất của cạnh tranh. Quy luật cạnh tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó nó làm giảm giá cả thị trường, nó tạo ra sức ép làm gia tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất, nó chỉ ra ai là người sản xuất kinh doanh thành công nhất. Vai trò của cạnh tranh Từ thế kỷ thứ 18, Adam Smith - nhà khoa học cổ điển vĩ đại của Anh đã chỉ ra vai trò quan trọng của cạnh tranh trong tác phẩm: Của cải của các dân tộc (1776). Ông cho rằng, sức ép cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách tốt nhất.
Kết quả của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố sản xuất một cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội (Adam Smith 1776, tr. Cho tới nay, cạnh tranh được coi là phương thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, không có cạnh tranh thì không thể có sự tăng trưởng kinh tế. Với tính cách là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện dưới những tiền đề kinh tế và pháp lý cụ thể. Trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện và tồn tại, không những thế nó còn tồn tại như một động lực phát triển nội tại của nền kinh tế.
Một số nhà kinh tế đã khẳng định cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của cơ chế thị trường. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng chỉ thực sự diễn ra khi pháp luật thừa nhận và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sở hữu, khi có tự do thương mại, cùng với nó là tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ của các cá nhân được hình thành và đảm bảo. Cạnh tranh thực sự diễn ra khi không có những quy định và hành vi nào cản trở sự nhập cuộc của các doanh nghiệp vào một thị trường cụ thể. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của cạnh tranh là, một mặt, tạo ra động lực của sự phát triển kinh tế, mặt khác nó có vai trò như một phương tiện hữu hiệu nhất để tối đa hóa lợi nhuận và lợi ích cho cả nhà cung cấp và người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ.
Nếu không có cạnh tranh, một bộ phận nguồn lực của nền kinh tế không được huy động vào sản xuất, gây nên sự lãng phí xét trên bình diện tổng thể kinh tế xã hội. Nhìn chung, cạnh tranh mang lại một số lợi ích sau: Cạnh tranh đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế; Về phía doanh nghiệp, thông qua quan hệ cung cầu, cạnh tranh giúp doanh nghiệp nhanh nhạy nắm bắt và đáp ứng nhu cầu và thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng. Các doanh nghiệp với mục tiêu hút càng nhiều khách hàng về phía mình càng tốt. Như vậy, cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp phát huy hết khả năng của mình bằng cách chính bản thân nó khuyến khích các doanh nghiệp phấn đấu đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, dịch vụ và giá cả.
Sức ép cạnh tranh thúc giục các doanh nghiệp phải liên tục tạo ra những sản phẩm mới đi kèm với việc áp dụng công nghệ mới, các phương pháp quản lý tiên tiến. Bởi vậy, cũng có thể thấy, cạnh tranh cũng là nguồn gốc để phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao cho nền kinh tế đất nước. Về phía người tiêu dùng, cạnh tranh không những thỏa mãn nhu cầu của họ mà còn giúp người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa dịch vụ có chất lượng tốt và giá thành rẻ hơn. Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì cạnh tranh cũng có một số hạn chế.
Do chạy theo lợi nhuận nên cạnh tranh có ảnh hưởng tiêu cực, vừa là động lực tăng trưởng kinh tế vừa bao hàm sức mạnh đào thải. Sự đào thải không khoan nhượng những doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả do cạnh tranh khốc liệt. Mặc dù điều này phù hợp với quy luật kinh tế khách quan nhưng lại gây ra những hậu quả kinh tế xã hội như thất nghiệp gia tăng, mất ổn định xã hội. Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp trong đó có cả những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành ưu thế trên thương trường như gian lận, quảng cáo lừa gạt khách hàng.
Cuối cùng, cạnh tranh có xu hướng dẫn đến độc quyền làm cho thị trường phát triển theo chiều hướng không tốt. Tuy nhiên, do cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động của nền kinh tế thị trường nên chúng ta cần nhận thức được các vai trò tích cực và hạn chế của cạnh tranh để vận dụng quy luật này sao cho hiệu quả nhất. Phân loại hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh trên thị trường a) Cạnh tranh hoàn hảo Cạnh tranh hoàn hảo là tình trạng thị trường trong đó số người mua và số người bán một mặt hàng là rất nhiều, người tiêu dùng có đầy đủ thông tin về sản phẩm, sức mạnh thị trường của người bán là không có và vì thế không ai có khả năng ảnh hưởng đến giá cả thị trường, do vậy đối với mỗi doanh nghiệp, coi như giá cả đã được định trước.
Trong trạng thái thị trường này, loại sản phẩm là sản phẩm đồng nhất, các doanh nghiệp được tự do gia nhập thị trường mà không có trở ngại nào về mặt pháp lý.