CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TƯỜNG CHẮN TRONG HỐ ĐÀO SÂU 1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHƯƠNG PHÁP CHỐNG ĐỠ HỐ ĐÀO Peck (1969) trong một báo cáo tại hội nghị quốc tế về cơ học đất và kỹ thuật nền móng đã cho thấy một báo cáo nghiên cứu tổng quan khá đầy đủ về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ chống đỡ của hố đào sâu. Ngoài ra đến nay cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố kể từ nghiên cứu của Ralph B. Ứng xử của hố đào sâu có liên quan đến cả sự ổn định và mức độ chuyển vị của hố đào cũng như đất nền xung quanh hố đào.
Do đó hệ tường và hệ chống tạm được ứng dụng để giữ cho nền ổn định cũng như chuyển vị của nền xung quanh hố đào nằm trong một giới hạn cho phép, đáy hố đào không bị đẩy trồi quá mức kiểm soát. Chuyển vị của nền xung quanh hố đào có ảnh hưởng đáng kể đến các công trình lân cận, nếu chuyển vị quá lớn có thể dẫn đến sự hư hỏng hoặc thậm chí phá hủy công trình lân cận. Dễ dàng nhận thấy rằng độ ổn định của hố đào và mức chuyển vị của nền xung quanh nó có mối liên hệ mật thiết với nhau. Với hệ số an toàn càng lớn thì mức chuyển vị càng nhỏ và ngược lại.
Tuy nhiên điều này có ảnh hưởng đến vấn đề kinh tế cho hệ chống đỡ tạm trong thi công hố đào sâu. Với hệ số an toàn càng lớn thì kinh phí cho hệ chống tạm càng lớn và ngược lại. Do đó việc phân tích tính toán ứng xử về ứng suất và biến dạng của hệ chống tạm cần phải được quan tâm đáng kể. Mặc dù phương pháp cân bằng giới hạn cũng có thể được áp dụng để tính toán bài toán hố đào nhưng với tốc độ phát triển của máy tính điện tử, phương pháp số như phần tử hữu hạn (FEM), sai phân hữu hạn (FDM)…và các mô hình số hiện đại thì việc phân tích đánh giá bài toán ngày càng đơn giản hơn ngay cả với các điều kiện biên phức tạp lẫn điều kiện tải trọng phức tạp.
Hệ chống đỡ tạm bao gồm tường đứng có thể là bằng thép, BTCT, gỗ hoặc CDM hoặc cọc khoan phụt cao áp và hệ văng chống tạm. Trong thi công hố đào thì áp suất ngang bị mất trong quá trình đào do đó hệ văng chống tạm (có thể là thanh 13 chống ngang hoặc xiên, neo ngang hoặc xiên…) được dùng để bổ sung lực ngang thay cho áp suất ngang ở trạng thái tĩnh khi nền chưa đào. Trong khi đó thì tường đứng đóng vai trò giữ đất không cho dịch chuyển vào bên trong hố đào và ngăn nước vào hố đào bằng cách tăng chiều dài đường thấm. Chi tiết các hệ này được mô tả khá đầy đủ trong sổ tay thực hành dùng trong hố đào sâu được viết bởi Puller, Malcom (1996).2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về hố đào sâu nói chung là Peck (1969), Lambe (1970), Goldberg, Jaworski et al.
(1976), O'Rourke (1981), Clough and O'Rourke (1990) và gần đây nhất là một bài báo được tạp chí Géotechnique xuất bản nhìn lại sự đóng góp cho chủ đề kết cấu chắn đất từ 1948 đến 2008, Milligan, St John et al. (2008) đã tổng hợp quá trình phát triển của công tác thiết kế, thi công và quan trắc hố đào sâu với các chủ đề liên quan đến quan trắc công trình thực, chuyển vị nền đất và tường hố đào, phân tích bằng phương pháp số và cuối cùng là ứng suất lên tường khi đắp đất và đầm chặt. Skempton and Ward (1952) mô tả một hố đào dùng hệ giằng chống trong điều kiện đất yếu và đưa ra nhận định rằng dữ liệu thực tế về điều kiện đất nền và kết quả quan trắc quan trọng hơn việc diễn giải chúng, và công nhận rằng các phương pháp đánh giá sẽ được phát triển cùng với lý thuyết ngày càng cải tiến hơn trong khi dữ liệu quan trắc rất hữu ích trong việc kiểm soát các phương pháp thiết kế mới cũng như đóng góp vào việc phát triển phương pháp thiết kế thực nghiệm. Wu and Berman (1953) trình bày một hố đào rất sâu trong điều kiện đất sét yếu đến trung bình và cho thấy rằng việc cố định đáy tường trong trường hợp này có thể giới hạn giá trị chuyển dịch nền cũng như thay đổi phân bố áp lực đất.
Bjerrum and Eide (1956) hơn nữa đã tập hợp rất nhiều trường hợp thực tế hố đào sâu trong điều kiện đất yếu với một mục đích khác hơn. Bài báo này đã có ảnh hưởng rất lớn lên triết lý thiết kế bán thực nghiệm để tính toán chuyển vị nền và nội lực trong thanh giằng mà sau đó được mô tả trong các bài báo Peck (1969) và Clough and O'Rourke (1990) theo đó chuyển vị lớn nhất đối với trường hợp hố đào trong đất yếu đến trung bình ở vào khoảng 2%-5% chiều sâu hố đào. Chính họ đã 14 tiên phong trong việc quan sát các công trình chắn đất dùng trong hố đào sâu với các dữ liệu đầu vào được thực hiện rất chuẩn bằng công tác lấy mẫu khối (block sampling) và quan trắc trong giai đoạn thi công. Trong gần 60 năm kể từ bài báo của Skempton A.
công bố và gần 45 năm kể từ công trình đầu tiên do Ralph B. Peck công bố thì công tác thi công hố đào sâu đã được cải tiến rất nhiều bằng các phương pháp hiện đại và tinh vi hơn. Sau công trình nghiên cứu về lợi ích và hạn chế của phương pháp quan trắc trong công trình của (Peck 1969), có một loạt nghiên cứu phát triển thêm về phương pháp này như Powderham (1994), Burland (1967), Schanz and Vermeer (1999) and Janbu (1963) đã được đưa vào làm tài liệu tham khảo trong báo cáo kỹ thuật CIRIA R185 đối với phương pháp quan trắc trong kỹ thuật đất nền: nguyên lý và úng dụng do Rowe (1962). Ấn phẩm này đã trở thành một hướng dẫn chuẩn trong ứng dụng thực hành phương pháp quan trắc trong xây dựng được sử dụng rỗng rãi ở nước Anh.
Peck (1969) Công trình của Ralph B. Peck đã chỉ ra các vấn đề liên quan đến hố đào sâu bao gồm hệ văng chống ngang, chuyển vị ngang, hiện tượng lún nền xung quanh hố đào, phá hoại đáy hố đào do bùng nền hoặc đẩy trồi quá mức, các biện pháp giảm độ lún của nền xung quanh hố đào sâu và sự phân bố áp suất lên tường cừ. Ông đưa ra những ý kiến trên thông qua các công trình thực tế được ghi nhận theo ba ý điểm cơ bản sau: thứ nhất là tầm quan trọng của loại đất và yêu cầu của hố đào sâu; thứ hai là chiều sâu hố đào; và thứ ba là tay nghề của nhân công trong công tác thi công hệ tường và văng chống tạm. Lambe (1970) Công trình của T.
Lambe tập trung vào việc thiết kế và phân tích hố đào sâu và hệ chống đỡ tạm. Ông chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển vị của đất nền xung quanh và các điều kiện kỹ thuật khi thi công hố đào sâu. Trong công trình đó công bố ba trường hợp thực tế ở dự án tàu điện ngầm ở Boston với dữ liệu phân tích 15 so sánh với dữ liệu quan trắc tại hiện trường. Và ông đã đi đến kết luận rằng thiết kế và phân tích hố đào không thể thỏa mãn vì tải trọng hệ chống tạm và chuyển vị của nền không thể được xác định một cách tin cậy.
Ngoài ra ông còn đề xuất dùng phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) kết hợp với kinh nghiệm thông qua các công trình thực tế được công bố rộng rãi sẽ là phương cách đầy hứa hẹn trong tương lai để hiểu rõ ứng xử của hố đào sâu. Goldberg, Jaworski et al. (1976) Goldberg và những người khác (1976) đã tập hợp được ba tập báo cáo cho hiệp hội đường cao tốc của Mỹ (FHWA) về các kiến nghị trong thiết kế, các cân nhắc trong thiết kế và các kỹ thuật thi công đối với hố đào sâu có sử dụng hệ văng chống ngang. Bản báo cáo này tập hợp đầy đủ thông tin liên quan đến công tác thi công hố đào sâu vào năm 1976.
Ngoài ra các tác giả còn cập nhật 63 công trình thực tế đã được thực hiện theo mức độ ước tính về độ lún lớn nhất của nền xung quanh hố đào, chuyển vị ngang lớn nhất của tường và hình dạng của biểu đồ lún đất nền xung quanh hố đào. Các tác giả đã lập ra mối quan hệ kinh nghiệm giữa chuyển vị và biểu đồ lún đất nền so với chiều sâu hố đào và loại đất nền. O'Rourke (1981) Ông nghiên cứu chuyển vị của đất nền do các hoạt động gây ra do hố đào sâu và đã cho thấy tầm quan trọng của công tác chuẩn bị công trường đối với mức độ chuyển vị của nền đất xung quanh. Trong đó phải kể đến các công tác như hút nước hố đào, lắp đặt hệ chống tạm….là những công tác có thể gây ra chuyển vị của nền.
O’Rourke cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa đường chuyển vị của tường với tỷ số chuyển vị ngang so với chuyển vị đứng của nền đất xung quanh vào khoảng 1.6 đối với tường công sơn và 0.6 đối với tường có 2 gối đỡ, từ đó ông đã kết luận về những ảnh hưởng của độ cứng, tạo ứng suất trước và thời gian lắp đặt các thanh chống tạm. Ngoài ra độ cứng tương đối của hệ thanh chống chỉ vào khoảng 2% độ cứng tương đối của nó (AE/L) vì ảnh hưởng của hiện tượng nén trong các liên kết và uốn dọc các thanh chống. 16 Clough and O'Rourke (1990) Clough và O’Rourke nghiên cứu chuyển vị gây ra do hố đào sâu bằng cách xem xét các công trình có thực và các nghiên cứu trước đó. Họ đã chia chuyển vị ra làm hai dạng.
Dang thứ nhất gây ra do công tác đào sâu và chống tạm còn dạng thứ hai liên quan đến tay nghề xây dựng. Và họ kết luận rằng chuyển vị do hố đào sâu gây ra có thể được xác định trong giới hạn hợp lý nếu như các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển vị được xét cặn kẽ. Smith and Griffith (1982) Trong bài giảng Rankine lần thứ 42 của mình, Smith and Griffith (1982) đã nghiên cứu tổng quan mức độ thực tế của việc ứng dụng này, và đánh dấu các hạn chế cũng như các phát triển cần thiết để đạt được mục tiêu này.