CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Kĩ năng vận dụng toán học 1. Khái niệm về kĩ năng Có rất nhiều cách định nghĩa về kĩ năng tùy vào góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của mỗi người. Theo từ điển Hán Việt: “Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn, trong đó khả năng được hiểu là: Sức đã có (về một mặt nào đó) để thực hiện một việc gì” [2, Tr.
Từ điển Tiếng Việt khẳng định: “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [21, Tr. Theo giáo trình tâm lý học đại cương thì: “Kĩ năng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính, bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định” [3, Tr. Theo giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm thì: “Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp) để giải quyết một nhiệm vụ mới” [8, Tr. Các nhà giáo dục học cho rằng: mọi kiến thức bao gồm một phần là thông tin kiến thức thuần túy và một phần là kĩ năng.
Kĩ năng là một nghệ thuật, là khả năng vận dụng những hiểu biết có được để đạt được mục đích, kĩ năng còn có thể đặc trưng như toàn bộ các thói quen nhất định; kĩ năng là khả năng làm việc có phương pháp. Như vậy ta thấy: có nhiều cách phát biểu khác nhau về kĩ năng, tuy nhiên trong các cách phát biểu về kĩ năng đều có những điểm chung, đó là nói đến cách thức, thủ thuật và trình tự thực hiện các thao tác hành động để đạt được mục đích đã định. Khi nói đến khả năng là nói đến triển vọng và kết quả khi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn hành động sẽ diễn ra. Khi nói đến kĩ năng là nói đến sự nắm vững cách thức thực hiện các thao tác, trình tự thực hiện các thao tác.
Do đó, có thể hiểu:“Kĩ năng là khả năng biết vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có một cách phù hợp với điều kiện thực tiễn để thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó. Đặc điểm của kĩ năng Khái niệm kĩ năng trình bày ở trên chứa đựng những đặc điểm sau: - Bất cứ kĩ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết, đó là kiến thức bởi vì cấu trúc của kĩ năng bao gồm: hiểu mục đích đến biết cách thức đi tới kết quả, rồi đến hiểu các điều kiện để triển khai các cách thức đó. - Kiến thức là cơ sở của kĩ năng khi kiến thức đó phản ánh đầy đủ các thuộc tính bản chất của đối tượng, được thử nghiệm trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với tư cách là công cụ của hành động. Cùng với vai trò cơ sở của tri thức cần thấy rõ tầm quan trọng của kĩ năng.
Bởi vì: “Môn Toán là môn học công cụ có đặc điểm và vị trí đặc biệt trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển nhân cách trong trường phổ thông” [11, tr. Vì vậy, cần hướng mạnh vào việc vận dụng những tri thức và rèn luyện kĩ năng, vì kĩ năng chỉ có thể hình thành và phát triển trong hoạt động. Muốn có kĩ năng về một hành động nào đó thì cần phải: - Có kiến thức để hiểu mục đích của hành động, biết được mục đích của hành động, biết được điều kiện, cách thức để đi đến kết quả, để thực hiện hành động. - Tiến hành hành động đó với yêu cầu của nó.
- Đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra. - Có thể hành động có hiệu quả trong những điều kiện khác nhau. - Có thể qua bắt chước, rèn luyện để hình thành kĩ năng nhưng phải trải qua thời gian đủ dài. Sự hình thành và phát triển kĩ năng Để hình thành kĩ năng mỗi người đều phải trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, phức tạp, qua nhiều giai đoạn.
Kĩ năng được hình thành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn thông qua các hoạt động luyện tập, củng cố, vận dụng nhờ việc tiến hành các thao tác, hành động và diễn ra theo quy trình trong thời gian nhất định.G Gobulev quá trình hình thành kĩ năng thường trải qua năm giai đoạn: Giai đoạn 1: Con người được đặt trước tình huống mới, nhận thức được tình huống và mục đích của hành động, từ đó tìm kiếm cách thức và hoạt động từ sự hiểu biết, kinh nghiệm và hệ thống kĩ xảo đã có. Chủ thể vận dụng chúng thành những kĩ năng sơ đẳng có tính kinh nghiệm. Giai đoạn 2: Chủ thể đã có hiểu biết và phương thức hành động nhờ việc sử dụng các tri thức, kĩ xảo đã có. Nhưng đó không phải là những kĩ xảo, kĩ năng chuyên biệt nhằm hành động để giải quyết tình huống.
Chủ thể đã biết phương thức hành động để giải quyết tình huống nhưng chưa đầy đủ, còn nhiều thiếu sót, sai lầm cũng như những thao tác thừa,. Giai đoạn 3: Có sự hình thành ở mức độ cao những kĩ năng riêng rẽ và có tính chất chung, cần cho nhiều hoạt động khác nhau. Giai đoạn 4: Chủ thể có thể vận dụng một cách sáng tạo vốn hiểu biết và những kĩ năng cụ thể, những kĩ xảo đã có. Chủ thể không chỉ ý thức về mục đích mà còn cả về những lựa chọn phương thức hành động hợp lí để hướng tới mục đích, kết quả cần đạt.
Cuối giai đoạn này kĩ năng cơ bản đã ở trình độ phát triển cao. Giai đoạn 5: Hình thành kĩ năng thực sự. Khi đó các kĩ năng cụ thể kết hợp lại tạo thành những nhóm kĩ năng, chủ thể có thể sử dụng một cách sáng tạo các kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành vào việc giải quyết các tình huống khác nhau của nghề nghiệp. Kĩ năng có thể hình thành bằng con đường luyện tập.
Muốn hình thành kĩ năng cho HS, GV cần: - Giúp HS hình thành đường lối chung để giải quyết các đối tượng, các bài tập cùng loại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Xác lập được mối liên hệ giữa những bài tập khái quát và các kiến thức tương ứng. Do đặc điểm, vai trò và vị trí của môn Toán trong nhà trường phổ thông, theo lí luận dạy học môn Toán cần chú ý: “Trong khi dạy học môn Toán cần quan tâm rèn luyện cho HS những kĩ năng trên những bình diện khác nhau đó là: - Kĩ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Toán. - Kĩ năng vận dụng tri thức Toán học vào những môn học khác.
- Kĩ năng vận dụng tri thức vào đời sống [12, tr. Theo quan điểm trên, truyền thụ tri thức, rèn luyện kĩ năng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bộ môn Toán trong nhà trường phổ thông. Phân loại kĩ năng Nếu xét theo tổng quan thì kĩ năng được phân ra làm 3 loại: + Kĩ năng chuyên môn + Kĩ năng sống + Kĩ năng làm việc Nếu xét theo liên đới chuyên môn: + Kĩ năng cứng + Kĩ năng mềm + Kĩ năng hỗn hợp [14]. Trong tâm lý học - giáo dục, người ta thường chia kĩ năng học tập Toán học cơ bản thành bốn nhóm: Kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành, kĩ năng tổ chức hoạt động nhận thức và kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá.
Kĩ năng nhận thức Nhóm kĩ năng nhận thức trong môn Toán bao gồm: Kĩ năng nắm vững khái niệm, định lí, vận dụng các quy tắc và dự đoán - suy luận. 1) Kĩ năng nắm vững khái niệm Rèn luyện cho HS hiểu được các dấu hiệu đặc trưng của một khái niệm, từ đó biết nhận dạng một khái niệm, tức là biết phát hiện xem một đối tượng cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn trước có thuộc phạm vi khái niệm nào đó không, đồng thời biết thể hiện khái niệm, nghĩa là biết tạo ra một đối tượng thuộc phạm vi khái niệm cho trước. Trên cơ sở đó, HS có thể hiểu được mối quan hệ giữa các khái niệm. 2) Kĩ năng nắm vững định lí Nắm vững một định lí là phân biệt được phần giả thiết và kết luận của định lí đó, có thể nêu cách phát biểu khác của định lí, hiểu được mối quan hệ lôgic giữa các định lí.
3) Kĩ năng vận dụng các quy tắc Một khía cạnh khác của kĩ năng nhận thức trong môn Toán là kĩ năng áp dụng thành thạo mỗi quy tắc, trong đó yêu cầu vận dụng linh hoạt tránh máy móc. Chẳng hạn, quy tắc hình bình hành để xác định tổng của hai vectơ, quy tắc xác định ảnh của một điểm qua phép vị tự,. quy tắc giải và biện luận hệ hai phương trình bậc nhất hai ẩn,… GV cần chú ý lựa chọn, khai thác những ví dụ, những bài tập có cách giải quyết linh hoạt, đơn giản hơn là áp dụng quy tắc tổng quát nhằm khắc phục tính ỳ của tư duy và rèn luyện tính linh hoạt của trí tuệ. 4) Kĩ năng dự đoán và suy đoán Để rèn luyện cho HS khả năng tìm tòi, dự đoán được những tính chất, những quy luật của hiện thực khách quan, tự mình phát hiện và phát biểu vấn đề, cần phải luyện tập cho HS kĩ năng dự đoán và suy đoán (thông qua quan sát, so sánh, đặc biệt hóa, khái quát hóa, tương tự,.
Kĩ năng thực hành Kĩ năng thực hành trong môn Toán bao gồm kĩ năng vận dụng tri thức vào hoạt động giải toán, kĩ năng Toán học hóa tình huống thực tiễn (trong bài toán hoặc trong đời sống). 1) Hoạt động giải toán Hoạt động giải toán có thể xem là hình thức chủ yếu của hoạt động Toán học đối với HS. Nó là điều kiện để thực hiện tốt các mục đích của việc dạy học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn môn Toán ở trường phổ thông. Kĩ năng vận dụng tri thức một cách có hiệu quả vào hoạt động giải toán của HS được huấn luyện trong quá trình học tìm tòi lời giải của bài toán.
Quá trình này thường được tiến hành theo bốn bước: tìm hiểu nội dung bài toán, xây dựng chương trình giải, thực hiện chương trình giải, kiểm tra và nghiên cứu lời giải tìm được.