Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và một số hàm ý chính sách 123doc 10 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tinh thần lập nghiệp 2. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hiện tượng toàn cầu và được hiểu rộng rãi như một tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế, là một yếu tố quan trọng của kinh tế quốc tế; dòng chảy vốn, công nghệ, kiến thức và kỹ năng vượt qua biên giới quốc gia tạo cơ hội cho các nước đang phát triển "bắt kịp" với các nước khác (Javorcik, 2004). “FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp” (IMF, 1993).
Theo Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam mà Quốc hội thông qua có thể tổng hợp lại như sau: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài”. Theo Ủy ban Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) định nghĩa FDI là: một khoản đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp). Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý được dùng để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư 123doc 11 thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Do vậy, có thể hiểu chung nhất từ các định nghĩa trên thì FDI là hình thức mà các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư các nguồn lực như tiền, công nghệ… từ nước này sang nước khác, đồng thời dựa trên quyền sở hữu đó để giành quyền điều hành, quản lý nhằm mục đích thu được lợi ích kinh tế từ nước thu hút đầu tư (nước nhận đầu tư). Tinh thần lập nghiệp: 2.
Khái niệm về tinh thần lập nghiệp (entrepreneurship): Thuật ngữ “tinh thần lập nghiệp – entrepreneurship” có ít nhất 2 nghĩa (Sternberg and Wennekers, 2005). Đầu tiên, tinh thần lập nghiệp liên quan đến việc sở hữu và quản lý một doanh nghiệp. Đây chính là khái niệm mang tính thực tiễn của tinh thần lập nghiệp. Theo ý nghĩa này, khía cạnh động sẽ tập trung vào việc sáng lập các doanh nghiệp mới, và khía cạnh tĩnh tập trung liên quan đến số lượng người sở hữu doanh nghiệp.
Thứ hai, tinh thần lập nghiệp được hiểu là hành vi sáng nghiệp theo ý nghĩa nắm bắt một cơ hội kinh tế nào đó. Đây là khái niệm mang tính hành vi của tinh thần lập nghiệp. Những người lập nghiệp không nhất thiết được hiểu là người sở hữu doanh nghiệp. Có một hướng tiếp cận nghiên cứu mới là xem xét việc thiết lập đầu tư mạo hiểm như là một tiêu chuẩn của tinh thần lập nghiệp – với cách hiểu kết hợp giữa lập nghiệp hành vi và lập nghiệp thực tiễn động (Cooper, 2003).
Do vậy, người lập nghiệp “là người chuyên đưa ra các quyết định phán đoán về kết hợp các nguồn lực khan hiếm” (Casson, 2010). Thuật ngữ này nhấn mạnh rằng người lập nghiệp là một cá nhân. Thuật ngữ “phán đoán” hàm ý quyết định không thể đơn thuần là việc áp dụng thường lệ một quy tắc chuẩn nào đó. Ý tưởng rằng việc nhận thức các cơ hội là chủ quan, nhưng các cơ hội là khách quan, vốn có lịch sử lâu đời trong lý thuyết lập nghiệp.
Nó được diễn đạt rõ nhất trong Hayek (1937). Khái niệm tinh thần lập nghiệp cũng có thể được tìm thấy trong nghiên cứu rất sớm của Schumpeter (1934), người xác định rõ ràng rằng người lập nghiệp là người tạo biến chuyển lớn cho phát triển kinh tế và chức năng của người đó là đổi mới. Acs and Audretsch (2010) cho rằng hành động lập nghiệp là nguyên nhân chính của chu kỳ kinh doanh và phát triển kinh tế, một làn sóng đổi mới kinh doanh làm ảnh hưởng tới nền kinh tế, thay thế các sản phẩm cũ và các quy trình sản xuất, tiếp theo đó là việc bắt chước nhanh bởi các đối thủ cạnh tranh mới. Động lực của cạnh tranh không chỉ từ tối đa hóa lợi nhuận mà từ khát vọng, phẩm chất, cá tính của nhà lập nghiệp - người luôn tìm cách đổi mới để cạnh tranh, dẫn đến sự đột phá mang tính sáng tạo, tạo ra chuỗi biến động để hình thành cái mới và hủy diệt cái cũ.
Như nhà kinh tế học G. Schackle từng viết, “Người lập nghiệp là người làm nên lịch sử, nhưng phương thức làm nên điều đó chính là phán đoán về các khả năng chứ không phải tính toán những điều chắc chắn” (Hébert and Link, 1988). Tinh thần lập nghiệp là những gì xảy ra ở điểm giao giữa lịch sử và công nghệ (Ács & Audretsch, 2006). Điều này đưa đến hai khái niệm xa hơn trong phân tích về tinh thần lập nghiệp.
Đầu tiên là lượng kiến thức kỹ thuật, điều có thể được hiểu như là ngôn ngữ và kiến thức được hệ thống hóa. Thứ hai là tập hợp cơ hội công nghệ. Nó bao gồm toàn bộ các cơ hội chưa hề được khai phá. Đầu tư vào kiến thức mới làm tăng tập hợp cơ hội công nghệ và làm mạnh khả năng nhìn về tương lai.
Hệ quả là, hoạt động lập nghiệp có thể được định nghĩa như là hoạt động bao gồm phát hiện, đánh giá và khai phá các cơ hội trong khuôn khổ của một mối quan hệ giữa các nhân và cơ hội (Shane, 2003). Sự sắp xếp mang tính thể chế về cách thức các cơ hội được khai phá sẽ phụ thuộc vào tính chất của việc khai phá và việc phát hiện các cơ hội. Có 4 dạng hoạt động mạo 123doc 13 hiểm được thảo luận trong lý thuyết, bao gồm tinh thần lập nghiệp độc lập, chia tách, mua lại, và đầu tư mạo hiểm. Khi nhìn vào 4 phương thức để khai phá các cơ hội mới này, sẽ rõ ràng rằng 3 dạng đầu tiên có dạng thức thực nghiệm trong thế giới thực.
Nhiều công ty lớn tham gia cả hoạt động chia tách công ty hiện hữu lẫn mua lại các công ty lập nghiệp độc lập. Ngược lại, đầu tư mạo hiểm vào doanh nghiệp không có dạng thức thực nghiệm rõ ràng trong thế giới kinh doanh. Cho đến nay, phương thức phổ biến nhất để khám phá mới các cơ hội là lập nghiệp độc lập. Trong khi các công ty lập nghiệp độc lập khó để khái niệm hóa trong thế giới thực nghiệm, vẫn có 2 loại dữ liệu thực nghiệm tồn tại để nghiên cứu chúng.
Đầu tiên là dữ liệu về tự hoạt động, một định nghĩa pháp lý cũng như một khái niệm kinh tế. Người tự làm làm việc cho chính họ và không làm việc vì lương. Dữ liệu về tự hoạt động đã được sử dụng để trả lời nhiều câu hỏi trong lập nghiệp, bao gồm các câu hỏi lựa chọn nghề nghiệp, các ràng buộc tài chính và các đặc tính của người lập nghiệp (Parker, 2004). Thước đo hoạt động thứ hai là việc thành lập công ty mới với nhân công có thể bên ngoài hoặc bên trong.
Việc hình thành công ty mới hàm ý rằng đầu tư mạo hiểm mới là độc lập bất cứ doanh nghiệp nào hiện đang hoạt động. Nó không phải là một công ty con hoặc một cơ sở của một doanh nghiệp đang hoạt động. Thước đo này đến nay được sử dụng để nghiên cứu các thay đổi ngành bao gồm thành lập công ty mới, duy trì công ty, tăng trưởng công ty và sự rút khỏi ngành (Audretsch, 1995). Định nghĩa về tinh thần lập nghiệp (entrepreneurship) được sử dụng trong nghiên cứu này là mức độ hình thành doanh nghiệp mới, được định nghĩa là quá trình mà một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân hành động một cách độc lập, không có bất kỳ liên hệ nào với một tổ chức hiện hành, nhằm tạo ra các tổ chức mới (Sharma and Chrisman, 2007).
Định nghĩa này nằm ngoài bối cảnh các tổ chức được thiết lập trước đó và phù hợp với tiếp cận sớm của Schumpeter (1934), cũng như phù hợp với lập nghiệp cơ hội và lập nghiệp giá trị cao. Lập nghiệp cơ hội và lập nghiệp cần thiết: Lý thuyết phân loại lập nghiệp theo nhiều cách khác nhau, gắn liền với những nghiên cứu nhất định. Theo đó, lập nghiệp có thể phân chia thành sáng kiến và bắt chước (Schumpeter, 1934), lập nghiệp hữu ích và không hữu ích (Baumol, 1990, Minniti, 2008); người lập nghiệp có khát vọng và không khát vọng (Autio và Acs, 2010); lập nghiệp định hướng tăng trưởng cao (Shane, 2009); và lập nghiệp chính thức và phi chính thức (Dau và Cuervo-Cazurra, 2014). Cách phân loại được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu gần đây bắt nguồn từ các nghiên cứu quan trọng của Krueger Jr và Brazeal (1994), Shane và cộng sự (1991) và đặc biệt là Reynolds và cộng sự (2003) cho rằng các nhà lập nghiệp (entrepreneurs) có thể có động cơ lập nghiệp khác nhau, chủ động hoặc bị động để lập nghiệp.
Ông phân biệt thành hai loại hình lập nghiệp dựa trên động cơ. Đầu tiên là lập nghiệp cơ hội (opportunity-driven entrepreneurs), gồm những người có thể tìm thấy cơ hội trên thị trường hoặc họ mong muốn tăng thêm tính độc lập trong công việc của mình hoặc cải thiện thu nhập. Những người này tìm thấy các cơ hội tốt trên thị trường cùng với kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của mình để phát triển những cơ hội đó, và sẵn lòng đầu tư.