CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực là nguồn lực của mỗi người bao gồm cả thể lực và trí lực.
Thể lực là sức khỏe, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay. Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Gen, tầm vóc người, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, giới tính. Trí lực là suy nghĩ, sự hiểu biết của con người, trí lực muốn nói tới khả năng làm việc bằng trí óc của con người. [4] Như vậy, nhân lực phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội.
Nguồn nhân lực. Hiện nay, trên thế giới thuật ngữ “nguồn nhân lực” trở thành thuật ngữ chung và phổ biến. Theo đó, nguồn lực con người được xem xét với nghĩa bao quát, rộng hơn và không chỉ đơn thuần về mặt số lượng mà ngày càng quan tâm đến mặt chất lượng, gắn liền với quá trình phát triển của con người. Nhân lực được hiểu là sức người về mặt dùng trong lao động sản xuất.
Nói một cách tổng quát nhân lực là nguồn lực của con người, gồm thể lực và trí lực. Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về NNL. Có thể nêu lên một số quan niệm sau: NNL bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm nổ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động [3]. Chúng ta biết rằng, bất kỳ một tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay NNL của nó.
Do đó, có thể nói NNL của một tổ 6 chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong một tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là NNL của mỗi con người mà nguồn nhân lực này gồm thể lực và trí lực.[5] Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc: “NLL là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển KT – XH trong một cộng đồng”. Một số ý kiến của các nhà kinh tế học cho rằng: “NNL là tổng hợp cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động” [1]. Theo giáo sư Phạm Minh Hạc thì: “NNL cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó”. Từ những khái niệm trên chúng ta hiểu: NNL là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng một cơ cấu KT – XH đòi hỏi.
Đối với một tổ chức hay một doanh nghiệp, NNL là tiềm năng của tất cả các thành viên trong tổ chức/doanh nghiệp đó sử dụng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển đơn vị mình. Toàn bộ tiềm năng của con người hình thành nên năng lực sản xuất của tổ chức hay xã hội. Năng lực này có được phải qua giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe,…và nó không ngừng được tăng cường nâng cao trong quá trình sống và lao động. Tuy nhiên, nếu dừng lại xem xét NNL dưới dạng tiềm năng là chưa đủ.
Vấn đề quan trọng là phải biết khai thác, huy động tiềm năng đó vào quá trình phát triển của tổ chức dưới dạng vốn nhân lực. Có thể nói, NNL được coi như là một nguồn lực chính ở chổ biến nó dưới dạng tiềm năng 7 thành vốn nhân lực. Khi nguồn vốn nhân lực được phát huy sẽ mang lại những lợi ích trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện tại. Đào tạo nguồn nhân lực - Đào tạo NNL là một hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách, năng lực của người được đào tạo [2].
+ Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp. + Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức. + Đào tạo là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, là quá trinh học tập làm cho người lao động có thể thực hiện công việc tốt hơn. - Đào tạo NNL là cần thiết cho sự thành công của doanh nghiệp và sự phát triển chức năng của con người.
Vì vậy, đào tạo NNL không chỉ được thực hiện bên trong doanh nghiệp mà còn bao gồm những hoạt động khác được thực hiện từ bên ngoài, như: học việc, học nghề và thực hành nghề. - Đào tạo NNL nhằm mục đích nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực đó. Thực chất của quá trình này là nhằm nâng cao năng lực và động cơ của người lao động [7]. * Năng lực người lao động.
Năng lực là sự tổng hòa các yếu tố kiến thức, kỹ năng hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người. - Về kiến thức, người lao động có thể bao gồm 3 yếu tố là kiến thức tổng hợp (những hiểu biết chung về thế giới), kiến thức chuyên ngành (về một vài lĩnh vực đặc tnmg như kế toán, tài chính,.) và kiến thức đặc thù (những kiến thức đặc trưng mà người lao động trực tiếp tham gia hoặc được đào tạo). 8 - Kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó. Những kỹ năng sẽ giúp cho người lao động hoàn thành tốt công việc của mình, quy định tính hiệu quả của công việc.
- Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình đối với các công việc, điều này sẽ được thể hiện qua các hành vi của họ. Một người có kỹ năng tốt nhưng thái độ không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao. Trong 3 yếu tố đánh giá năng lực của lao động là: kỹ năng, kiến thức và thái độ,thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của người lao động với công việc cũng như với tổ chức [13]. * Động cơ của người lao động.
Thứ nhất, con người sống và làm việc có những nhu cầu khác nhau, có nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, có nhu cầu xã hội cũng như nhu cầu hoạt động, làm việc. Đó là đòi hỏi khách quan của mọi con người đảm bảo sự tồn tại và phát triển của họ trong những điều kiện nhất định. Động cơ chính là sức mạnh bên trong thúc đẩy con người hoạt động, chỉ đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu. Như vậy, động cơ làm việc là sự sẵn sàng dồn tâm trí, sức lực theo đuổi mục tiêu của tổ chức để đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu cá nhân.
Những động cơ làm việc cá nhân phục vụ mục tiêu chung, có lợi cho doanh nghiệp, có xã hội, đem lại những điều kiện tốt đẹp được người xem là động cơ trong sáng, tốt đẹp. Trong các doanh nghiệp vốn đã có một đội ngũ lao động thì việc thiết kế các công việc, bố trí đúng người, đúng việc là đòi hỏi quan trọng hàng đầu đối với các nhà quản lý. Việc chuyên môn hóa cao công việc sẽ giảm các thao tác của người thực hiện và tạo ra năng suất cao nhưng lại làm cho công việc đơn điệu, nhàm chán và mất tính sáng tạo. Do vậy, việc kết hợp một số công việc, 9 hoạt động sẽ là đa dạng hóa công việc, là cách làm cho công việc không bị nhàm chán do số thao tác và các hoạt động của người thực hiện tăng lên và như vậy sự hấp dẫn của công việc cũng tăng lên.
Thứ hai, chế độ đãi ngộ, khen thưởng: Phần thưởng cho người lao động phải công bằng. Mọi người mong muốn sự công bằng trong đánh giá năng lực thực hiện công việc và phần thưởng họ nhận được, sự công bằng không chỉ thể hiện ở phần thưởng mà người lao động nhận được phải phù hợp với những đóng góp, cống hiến của họ, mà còn phải phù hợp giữa phần thưởng của các cá nhân với nhau; Nếu không, phần thưởng sẽ không tạo ra được sự động viên, khuyến khích người lao động làm việc tốt hơn mà ngược lại còn làm mất giá trị của phần thưởng và làm mất đi sự hăng hái, nỗ lực của người lao động. Thứ ba, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý: Thông thường việc mở rộng quyền hạn cho người lao động thông qua việc cho phép họ tham gia vào quá trình xác định mục tiêu, đường hướng phát triển của doanh nghiệp; tham gia vào quá trình ra quyết định và tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp, đổi mới doanh nghiệp. Việc mở rộng quyền tham gia vào công việc quản lý tạo ra những đông lực to lớn đối với người lao động thúc đẩy họ nỗ lực làm việc, tăng năng suất.
Mục đích, ý nghĩa của đào tạo nguồn nhân lực a. Mục đích - Mục đích của đào tạo NNL là nhằm sử dụng tối đa hóa NNL hiện tại và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai. 10 - Đào tạo nguồn nhân lực nhằm mục đích nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực đó tại doanh nghiệp, thực chất của vấn đề này là nâng cao năng lực và động cơ của người lao động. Ý nghĩa - Đào tạo NNL là điều kiện quyết định để một doanh nghiệp có thể đi lên trong cạnh tranh.
- Lợi ích có được từ đầu tư vào nhân lực mang một số đặc trưng khác hẳn với các loại đầu tư khác: + Thứ nhất, đầu tư vào NNL không hề bị giảm giá trị trong quá trình sử dụng mà ngược lại càng được sử dụng nhiều, khả năng tạo thu nhập do vậy thu hồi vốn cao.