mở đầu di cư bao gồm các lý thuyết giải thích tại sao di cư lại xảy ra, các lý thuyết này là: lý thuyết di cư tân cổ điển với mức độ vi mô và vĩ mô, lý thuyết di cư kinh tế mới, lý thuyết thị trường lao động song song và lý thuyết hệ thống thế giới. Các lý thuyết này giải thích được lý do tại sao di cư lại bắt đầu nhưng lại không giải thích được tại sao di cư lại duy trì và tiếp tục theo không gian và thời gian. Do đó, một nhóm thứ hai của các lý thuyết di cư là sự duy trì di cư đã được đề cập đến, nhóm này bao gồm các lý thuyết sau: lý thuyết mạng lưới, lý thuyết tổ chức, lý thuyết nguyên nhân tích tụ và lý thuyết hệ thống di cư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Faist (2000) thì chia các lý thuyết di cư thành ba mức độ phân tích, đó là: mức độ vi mô, mức độ trung mô và mức độ vĩ mô.
Ở mức độ vi mô, nguyên nhân dẫn đến di cư là do mong đợi và nguyện vọng của cá nhân di cư. Mức độ vi mô này gồm có các lý thuyết là lý thuyết kéo – đẩy, lý thuyết di cư tân cổ điển và lý thuyết hệ thống xã hội. Ở mức độ trung mô, nguyên nhân dẫn đến di cư là do mạng lưới xã hội. Mức độ trung mô này gồm có các lý thuyết là lý thuyết vốn xã hội, lý thuyết tổ chức, lý thuyết mạng lưới, lý thuyết nguyên nhân tích tụ và lý thuyết di cư kinh tế mới.
Ở mức độ vĩ mô, nguyên nhân dẫn đến di cư là do cấu trúc cơ hội mức độ vĩ mô, chẳng hạn như do sự khác biệt về cơ hội việc làm và thu nhập ở các vùng. Mức độ vĩ mô này gồm có các lý thuyết là lý thuyết di cư tân cổ điển, lý thuyết hệ thống di cư, lý thuyết thị trường lao động song song, lý thuyết hệ thống thế giới và lý thuyết chuyển tiếp di cư. Luận văn nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn xã hội và di cư, do đó lý thuyết di cư được tác giả sử dụng trong luận văn này là lý thuyết ở mức độ trung mô mà cụ thể là lý thuyết vốn xã hội. Ngoài ra, để xác định các biến kiểm soát cho mô hình nghiên cứu của luận văn thì tác giả sẽ tóm lược về nội dung của các lý thuyết di cư theo cách phân chia của Faist (2000).
Mức độ vi mô a. Lý thuyết kéo - đẩy Lee (1966) cho rằng quyết định di cư được dựa trên bốn nhóm nhân tố kéo – đẩy, đó là các yếu tố gắn bó với nơi ở gốc, các yếu tố gắn với nơi sẽ di cư đến, các trở ngại di cư và các nhân tố thuộc về bản thân người di cư. Theo Lee (1966) thì số lượng di cư sẽ tùy thuộc vào các yếu tố cụ thể sau: - Khu vực có mức độ đa dạng hóa cao thì số lượng di cư ở khu vực đó sẽ tăng lên. - Con người trong khu vực có sự tương đồng về dân tộc, học vấn, thu nhập, truyền thống thì số lượng di cư ở khu vực đó giảm xuống.
- Các rào cản về di cư giảm xuống thì số lượng di cư sẽ tăng lên. - Sự lên xuống của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến di cư, giai đoạn mở rộng thì số lượng di cư đến khu vực đó tăng lên, giai đoạn đi xuống thì số lượng di cư đến khu vực đó sẽ ít lại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 - Số lượng và tỷ lệ di cư có xu hướng tăng lên theo thời gian trừ khi có xuất hiện sự cản trở. - Số lượng và tỷ lệ di cư sẽ thay đổi theo tiến trình thể chế của khu vực đến.
Lý thuyết di cƣ tân cổ điển Faist (2000) cho rằng cách tiếp cận vốn con người được dùng để phân tích lý thuyết di cư tân cổ điển ở mức độ vi mô. Dựa trên nghiên cứu của Sjaastad (1962), di cư được xem như là quyết định đầu tư cá nhân để tăng năng suất vốn con người. Mỗi cá nhân sẽ tự tính toán lợi ích – chi phí hợp lý cho mình để đạt được những gì mình mong đợi trong tương lai. Cách tiếp cận vốn con người khá hữu ích trong việc giải thích tính chọn lọc của di cư nhưng khá là khó để kiểm chứng bằng phương pháp thực nghiệm.
Lý thuyết hệ thống xã hội Hoffmann-Novotny (1981) đưa ra lý thuyết hệ thống xã hội để nghiên cứu về di cư. Theo Hoffmann-Novotny (1981), người di cư mong muốn đạt được những điều tốt đẹp ở nơi đến, nhưng thông thường những điều tốt đẹp lại không xảy ra mà thay vào đó những căng thẳng tại nơi ở gốc lại chuyển hóa thành một hình thức khác ở nơi ở mới. Mức độ thành công của việc di cư phụ thuộc vào việc phân phối xã hội. Một người di cư đến từ một nơi mà tại đó họ ở tầng lớp xã hội thấp thì khi đến nơi ở mới, họ cũng dường như không trở thành tầng lớp xã hội cao hơn.
Học thuyết này đặt nhân tố kinh tế trong quy mô rộng hơn để xem xét việc gì sẽ xảy ra khi người di cư đi đến vùng đất mới. Học thuyết này cũng rất khó để áp dụng trong nghiên cứu thực nghiệm. Mức độ trung mô b. Lý thuyết vốn xã hội Các mối quan hệ xã hội, vốn xã hội trong gia đình, hàng xóm, cộng đồng và các tổ chức chính thức giúp người di cư ra quyết định di cư và hòa nhập cuộc sống.
Theo Haug (2008), có năm giả thuyết về mối quan hệ giữa di cư và vốn xã hội: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Giả thuyết sự giống nhau về cấu trúc: Sự tồn tại của họ hàng và bạn bè ở nơi sinh sống làm giảm di cư. Lúc này, mạng lưới xã hội ở nơi sinh sống được gọi là nhân tố ngăn di cư. Giả thuyết thông tin: Khi họ hàng và bạn bè đang sống ở nơi khác thì sẽ tăng di cư. Thêm vào đó, việc di cư trở nên thu hút hơn vì lúc này các cá nhân đã biết điều kiện sống ở nơi đến thông qua họ hàng và bạn bè.
Lúc này, mạng lưới xã hội ở nơi di cư đến là nhân tố kéo di cư. Giả thuyết thuận tiện: Họ hàng và bạn bè khuyến khích và lan truyền sự di cư đến nơi mà họ di cư từ đó. Lúc này, mạng lưới xã hội ở nơi di cư đến là nhân tố kéo di cư. Giả thuyết mâu thuẫn: Sự mâu thuẫn giữa gia đình với cộng đồng làm tăng di cư.
Lúc này, vốn xã hội ở nơi sinh sống là nhân tố đẩy di cư. Giả thuyết khuyến khích: Gia đình khuyến khích các thành viên di cư. Lúc này, mạng lưới xã hội ở nơi sinh sống là nhân tố đẩy di cư. Luận văn chú trọng vào giả thuyết sự giống nhau về cấu trúc, giả thuyết mâu thuẫn và giả thuyết khuyến khích.
Lý do luận văn tập trung vào các giải thuyết này vì các giả thuyết này được xét ở phạm vi vốn xã hội địa phương, trong khi đó hai giải thuyết thông tin và giả thuyết thuận tiện thì xét mối quan hệ giữa những người sống ở nơi khác với những người dân địa phương để nói về vốn xã hội. Vì số liệu hạn chế nên luận văn không sử dụng giả thuyết khyến khích trong nghiên cứu. Lý thuyết tổ chức Theo Massey và cộng sự (1993), một khi di cư diễn ra thì các tổ chức cá nhân và tổ chức tình nguyện sẽ thành lập để đáp ứng nhu cầu của những người dân muốn nhập cư khi mà con số tiếp nhận của địa phương thấp. Ngoài ra, các tổ chức nhân quyền tình nguyện cũng hình thành ở các nước phát triển để đảm bảo quyền cho người nhập cư.
Theo Goss và Lindquist (1995), những tổ chức này góp phần giúp duy trì luồng di cư, do đó làm việc di cư diễn ra nhiều hơn và lan rộng hơn trong một cộng đồng. Lý thuyết mạng lƣới TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Theo Massey và cộng sự (1993), mạng lưới di cư là một tập hợp các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau để kết nối giữa người di cư, người đã từng di cư và người chưa di cư ở nơi ở gốc và nơi ở mới với nhau. Sự kết nối mạng lưới hình thành nên một dạng của vốn xã hội mà các thành viên có thể dựa vào đó để tìm kiếm được công việc ở nơi ở mới. Một khi số lượng người di cư đạt đến mức nào đó thì việc mở rộng mạng lưới sẽ làm giảm chi phí và rủi ro gặp phải khi di cư, do đó làm việc di cư tăng lên và mạng lưới di cư cũng sẽ rộng hơn.
Lý thuyết nguyên nhân tích tụ Massey và cộng sự (1993) cho rằng cho tới hiện nay, các nhà khoa học xã hội đang thảo luận về sáu nhân tố kinh tế - xã hội tác động đến di cư theo lý thuyết nguyên nhân tích tụ, đó là: sự phân phối thu nhập, sự phân phối đất, tổ chức nông nghiệp, văn hóa, phân phối vốn con người trong vùng và ý nghĩa xã hội của công việc. Về phân phối thu nhập, theo Stark và cộng sự (1986) thì trước đây khi chưa có di cư xảy ra, sự bất bình đẳng thu nhập trong các hộ nông thôn nghèo không quá lớn bởi vì các gia đình chỉ chi tiêu ở mức đủ sống với khoản thu nhập rất nhỏ từ bên ngoài. Tuy nhiên, sau khi có một số người di cư để tham gia vào lực lượng lao động bên ngoài thì khoản tiền gia đình nhận được từ họ làm tăng thu nhập của gia đình. Thu nhập của các gia đình có người di cư tăng lên làm cho các gia đình có mức thu nhập thấp còn lại có động lực để di cư.
Cứ như vậy, bất bình đẳng thu nhập lại càng tăng lên, rồi lại càng làm cho người dân có động lực di cư. Việc di cư này sẽ dần kết thúc khi mọi gia đình đều có người di cư vì lúc đó bất bình đẳng thu nhập không còn cao nữa. Về phân phối đất, theo Rhoades (1978) một trong những mục tiêu quan trọng của người di cư từ vùng nông thôn là mua đất. Tuy nhiên, vì tiền lương họ nhận được khi làm việc ở nơi di cư cao hơn là lợi nhuận nhận được từ nông nghiệp nên họ không sử dụng đất này để sản xuất nông nghiệp mà dùng để nghỉ ngơi khi về hưu hoặc để khẳng định danh tiếng của mình.