chương I, Luật Lâm nghiệp 2017, thì rừng tự nhiên và rừng trồng được phân thành 03 loại như sau: Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, tín ngưỡng, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành - Rừng tự nhiên: là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên.
+ Rừng nguyên sinh: là rừng chưa hoặc ít bị tác động bởi con người, thiên tai; cấu trúc của rừng còn tương đối ổn định. + Rừng thứ sinh: là rừng đã bị tác động bởi con người hoặc thiên tai tới mức làm cấu trúc rừng bị thay đổi. + Rừng phục hồi: là rừng được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng do nương rẫy, cháy rừng hoặc khai thác kiệt. e 12 + Rừng sau khai thác: là rừng đã qua khai thác gỗ hoặc các loại lâm sản khác.
- Rừng trồng: là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm: + Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng; + Rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có; + Rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác. Theo thời gian sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau. - Ngoài ra rừng còn được phân loại theo hiện trạng, theo nhân tố phát sinh, theo điều kiện lập địa… 1. Đánh giá biến động lớp phủ rừng Khái niệm Đánh giá biến động lớp phủ rừng là đánh giá được sự thay đổi về lớp phủ rừng qua các thời điểm dưới sự tác động từ các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, sự khai thác, sử dụng của con người.
Mọi vật trên thế giới tự nhiên không bao giờ bất biến mà luôn luôn biến động không ngừng, động lực của mọi sự biến động đó là quan hệ tương tác giữa các thành phần của tự nhiên. Như vậy để hiểu rõ vai trò và tác động của rừng đối dòng chảy mặt, bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này và không làm suy thoái môi trường tự nhiên thì nhất thiết phải nghiên cứu lớp phủ rừng. Sự biến động rừng do con người sử dụng vào các mục đích kinh tế - xã hội có thể phù hợp hay không phù hợp với quy luật của tự nhiên, cần phải nghiên cứu để tránh sử dụng rừng có tác động xấu đến môi trường sinh thái [22]. Các đặc trưng của biến động thảm thực vật rừng - Quy mô biến động: + Biến động về diện tích thảm thực vật rừng nói chung và các kiểu thảm thực vật rừng nói riêng; + Biến động về chất lượng rừng, thông qua các chỉ số về trữ lượng rừng và trữ lượng các kiểu rừng.
e 13 - Xu hướng biến động: Xu hướng biến động có thể tăng hay giảm, theo hướng tích cực hay tiêu cực đến đời sống và hoạt động sản xuất của con người cũng như của môi trường sinh thái. - Mức độ biến động: + Thể hiện qua số lượng diện tích tăng hay giảm, nhiều hay ít của thảm thực vật giữa thời điểm đầu và cuối của thời kì nghiên cứu; + Xác định thông qua việc xác định diện tích tăng, giảm và tỉ lệ phần trăm độ che phủ của từng kiểu rừng thời điểm đầu, cuối của thời kì nghiên cứu; + Mức độ biến động còn thể hiện qua trữ lượng của các kiểu rừng tăng hay giảm, sự thay đổi trạng thái các kiểu rừng giữa đầu, cuối kì nghiên cứu. Sự mất rừng và suy thoái rừng Theo FAO (2000) cho rằng sự suy thoái rừng là sự giảm độ tàn che của rừng hoặc sức sản xuất của rừng. Đó là sự suy giảm độ tàn che rừng hoặc sức sản xuất của rừng thông qua khai thác, cháy rừng, cây đổ gãy do bão hay nguyên nhân khác, trong đó độ che phủ của tán rừng vẫn còn trên 10% (theo khái niệm về rừng) [22].
Ở Việt Nam, khái niệm về thoái hóa trong lâm nghiệp lần đầu tiên được đề cập trong cuốn “Thuật ngữ lâm nghiệp”. Theo Will de Jong, Đỗ Đình Sâm, Triệu Văn Hùng thì “Sự suy thoái rừng là một quá trình dẫn đến phá vỡ cấu trúc rừng, mất sư đa dạng sinh học của loài cây bản địa”. Mới nhất, theo khoản 31, Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 thì suy thoái rừng là sự suy giảm về hệ sinh thái rừng, làm giảm chức năng của rừng. Các vấn đề liên quan đến dòng chảy lưu vực sông 1.
Lưu vực sông Lưu vực sông là vùng địa lí được giới hạn bởi đường chia nước (hay còn gọi là đường phân thủy) trên mặt và dưới đất. Đường chia nước trên mặt e 14 (hay còn gọi là đường phân nước mặt) là đường nối các đỉnh cao của địa hình. Trên lưu vực sông, ngoài các diện tích đất trên cạn còn có các phần chứa nước trong lòng sông, hồ và các vùng đất ngập nước theo từng thời kỳ. Tất cả phần bề mặt lưu vực cả trên cạn và dưới nước là môi trường cho các loài sinh sống Đường chia nước dưới đất (hay còn gọi đường phân nước ngầm) là đường giới hạn trong lòng đất mà theo đó nước ngầm chảy về hai phía đối lập nhau.
Đường phân nước mặt và đường phân nước ngầm nhìn chung là không trùng nhau, do đó sẽ có hiện tượng nước từ lưu vực này chuyển sang lưu vực khác [8]. Sơ đồ lƣu vực sông ( Nguồn : [8]) Về mặt hình thái, một con sông có thể chia thành các vùng thượng lưu, trung lưu và hạ lưu: - Vùng thượng lưu của sông thường là các vùng cao với địa hình dốc, chia cắt phức tạp. Đây là nơi khởi nguồn của các dòng sông và bề mặt thường bao phủ bằng những cánh rừng được ví như những “kho nước xanh” có vai trò điều hòa dòng chảy, làm giảm dòng chảy đỉnh lũ và tăng lượng dòng chảy mùa cạn cho khu vực hạ lưu. - Vùng trung lưu các con sông thường là vùng đồi núi hoặc cao nguyên có địa hình thấp và thoải hơn, là vùng trung gian chuyển nước xuống vùng hạ lưu.
Tại vùng trung lưu, các con sông thường có độ dốc nhỏ hơn, lòng sông bắt đầu mở rộng ra và bắt đầu có bãi, đáy sông có nhiều cát mịn. Các bãi ven sông thường có nguy cơ bị ngập nước tạo thành các bãi chứa lũ tạm thời. e 15 - Hạ lưu sông là vùng thấp nhất của lưu vực sông, phần lớn là đất bồi tụ lâu năm có thể tạo nên các vùng đồng bằng rộng. Nhìn chung các sông khi chảy đến hạ lưu thì mặt cắt sông mở rộng, sông thường phân thành nhiều nhánh đổ ra biển [8].
Các đặc trưng của lưu vực sông Diện tích lưu vực: là diện tích hứng nước mưa tính đến một vị trí nào đó của sông. Diện tích lưu vực được giới hạn bởi đường chia nước càng lớn thì nguồn cung cấp nước cho sông càng lớn. Chiều dài lưu vực: là khoảng cách theo đường gấp khúc qua các điểm giữa của đoạn thẳng cắt ngang qua lưu vực và vuông góc với hướng dòng chảy đi từ nguồn nước. Trong thực tế lấy chiều dài sông chính là chiều dài lưu vực.
Chiều rộng lưu vực: chiều rộng lưu vực sông không cố định mà thay đổi theo chiều dài sông. Sự thay đổi của nó ảnh hưởng đến sự tập trung nước trong lưu vực. Độ cao bình quân lưu vực: ảnh hưởng đến điều kiện thủy văn khí hậu. Độ cao bình quân của lưu vực có ảnh hưởng rất lớn tới các nhân tố khí hậu, đặc biệt là đối với các lưu vực rộng lớn.
Độ dốc trung bình lưu vực: ảnh hưởng rất quan trọng tới quá trình tập trung dòng chảy, sự tạo thành lũ và tính chất lũ trong lưu vực. Lưu vực càng dốc thì dòng chảy tập trung càng nhanh và lũ lên càng nhanh. Mật độ lưới sông: mật độ lưới sông bằng tổng chiều dài của tất cả các sông suối trên lưu vực chia cho diện tích của nó [39]. Dòng chảy sông Khái niệm Sông là dòng chảy thường xuyên, tương đối ổn định trên bề mặt các lục địa được nguồn nước mưa, nước ngầm, nước băng tuyết tan nuôi dưỡng.
Dòng nước tự nhiên chảy theo chỗ trũng của địa hình, có lòng dẫn ổn định và e 16 có nguồn cung cấp nước mặt và nước ngầm gọi là sông [40]. Đặc trưng của dòng chảy sông - Lượng mưa ngày Hp (mm): Lượng mưa rơi xuống mặt đất lưu vực tính bằng mm, có thể đo bằng thùng đo mưa thông thường, hoặc bằng máy đo mưa tự ghi. Lưu lượng trên sông thay đổi theo thời gian. Đồ thị biểu thị sự thay đổi đó gọi là đường quá trình lưu lượng Q(t).
- Tổng lượng dòng chảy W (m3): Là lượng nước chảy ra mặt cắt cửa ra trong thời gian T nào đó (tháng, mùa, năm). - Độ sâu dòng chảy của lưu vực Y (mm): Độ sâu dòng chảy lưu vực là tỷ số giữa tổng lượng dòng chảy W(m3) với diện tích lưu vực F (km2). - Modun dòng chảy M (l/s - km2): Modun dòng chảy là lưu lượng dòng chảy trên một đơn vị diện tích của lưu vực: 103 .Q (l/s - km2) Trong đó: Q (m3/s), F (km2) (1) M F Modun dòng chảy đánh giá độ lớn của dòng chảy. - Hệ số dòng chảy : Hệ số dòng chảy là tỷ số giữa lưu lượng dòng Y chảy và lượng mưa Trong đó: Hp (mm), Y (mm) (2) Hp α phản ảnh tình hình tổn thất dòng chảy trên lưu vực.
α lớn chứng tỏ tổn thất ít và ngược lại [28]. Cân bằng nước Một lưu vực có thể đồng thời tiêu và chi nước theo nhiều con đường khác nhau.