Đặt vấn đề: Hệ thống điện là những hệ thống phi tuyến phức tạp, các điểm vận hành có thể thay đổi trên diện rộng, những dao động tần số thấp liên tục xuất hiện dẫn đến sự liên kết giữa các hệ thống yếu dần đi [5]. Trong máy phát điện, luôn tồn tại những dao động xung quanh điểm vận hành cân bằng, theo sau bất kỳ loại nhiễu loạn, thí dụ như thay đổi các phụ tải đột ngột, thay đổi các thông số của đường dây truyền tải, dao động công suất ở ngõ ra của tuốc bin… Ổn định hệ thống điện bao gồm ổn định góc lệch rotor, ổn định tần số và ổn định điện áp, chúng có liên quan mật thiết với nhau [2]. Bộ ổn định PSS Kundur [1] với tín hiệu ngõ vào là độ lệch tốc độ đã được sử dụng rộng rãi nhằm cung cấp tín hiệu ổn định bổ sung vào hệ thống kích từ máy phát để xóa bỏ dao động điện cơ và nâng cao sự ổn định toàn cục của hệ thống; cung cấp một moment cản dương trong pha để xóa bỏ ảnh hưởng của moment cản âm của hệ thống. Với các thông số cố định, bộ PSS Kundur không thể cung cấp đường đặc tính tối ưu cho tất cả các điểm vận hành khác nhau; vì hệ thống có thể thay đổi theo thời gian và các thông số của bộ PSS Kundur phải được phục hồi lại để nó có thể tiếp tục cung cấp các đường đặc tính mong muốn.
Ứng dụng các bộ PSS này trong một hệ thống nhiều máy phát gây ra nhiều sự phức tạp khi tổng hợp các thông số của bộ PSS; các thông số này được tối ưu hóa bằng cách sử dụng một mô hình động tuyến tính đạt được do tuyến tính hóa mô hình phi tuyến xoay quanh một điều kiện vận hành cố định ban đầu. Bộ PSS Kundur cung cấp đường đặc tính động tối ưu cho một điểm vận hành cố định ban đầu và các thông số hệ thống. Thiết kế bộ PSS Kundur được dựa vào cách sử dụng của hàm chuyển đổi được thiết kế cho mô hình tuyến tính mô tả máy phát tại điểm vận hành cố định ban đầu, nó thường không cung cấp kết quả thỏa đáng trên diện rộng của điều kiện vận hành. Do đó, học viên đề xuất bộ FTDNN-PSS hai ngõ vào là độ lệch tốc độ (dw) và độ lệch công suất tăng tốc (dPa), các thông số được cập nhật và điều chỉnh bằng giải thuật lan truyền ngược sai số (BP), có khả năng thích ứng dùng mạng nơron truyền thẳng có delay ngõ vào [2, 3].
Bộ FTDNN-PSS được đề xuất sẽ giải quyết những Nguyễn Vũ Phương Thảo Page 1 Luận văn Tốt Nghiệp GVHD: PGS Ts Quyền Huy Ánh vấn đề mà bộ PSS Kundur chưa làm được, thể hiện tiềm lực to lớn trong việc gia tăng sự tắt dần dao động của máy phát và cải thiện đặc tính động khi các điểm vận hành thay đổi khác nhau. Nội dung chính của luận văn này tập trung nghiên cứu thiết kế bộ FTDNN- PSS hai ngõ vào là độ lệch tốc độ và công suất tăng tốc; có thể dễ dàng thực thi với hệ thống kích từ số, được sử dụng cho sự thay đổi thông số của bộ PSS hai ngõ vào theo thời gian thực, sự thay đổi phụ thuộc vào điều kiện phụ tải và các thông số hệ thống của một hệ thống nhiều máy phát. Các kết quả mô phỏng cho thấy bộ FTDNN-PSS đề xuất đáp ứng nhanh hơn trong việc dập tắt dao động liên vùng, góp phần nâng cao sự ổn định của hệ thống dưới sự thay đổi trên diện rộng theo yêu cầu phụ tải. Mục tiêu của luận văn: Thiết kết bộ ổn định hệ thống điện PSS hai ngõ vào (dw và dPa) thay đổi theo thời gian thực bằng mạng nơron truyền thẳng có delay ngõ vào cho một hệ thống nhiều máy phát.
Mô phỏng và đánh giá sự ổn định toàn cục của hệ thống nhiều máy phát sau khi sử dụng bộ FTDNN-PSS điều khiển tín hiệu điện áp kích từ máy phát dưới sự thay đổi điều kiện phụ tải và các trường hợp sự cố có thể xảy ra trên đường dây truyền tải. Cho thấy kết quả việc ứng dụng bộ FTDNN-PSS vào mô hình hệ thống nhiều máy phát góp phần cải thiện, nâng cao sự ổn định toàn cục tốt hơn bộ PSS Kundur. Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 1.1 Nội dung nghiên cứu: Tìm hiểu về lý thuyết ổn định hệ thống điện. Thiết kế mô hình bộ FTDNN-PSS hai ngõ vào là độ lệch tốc độ và độ lệch công suất tăng tốc, một ngõ ra là tín hiệu điện áp điều chỉnh kích từ Upssnr để điều khiển ổn định hệ thống điện khi hệ thống xảy ra sự cố.
Thực hiện mô phỏng, so sánh và đánh giá đáp ứng của bộ ổn định FTDNN- PSS trong hệ thống điện gồm mười một bus đến mười ba bus (cố định) với bốn máy phát chia làm hai khu vực đối xứng nhau có sự cố ba pha giữa Nguyễn Vũ Phương Thảo Page 2 Luận văn Tốt Nghiệp GVHD: PGS Ts Quyền Huy Ánh đường dây truyền tải trong các trường hợp gắn phụ tải chuẩn, phụ tải nặng, phụ tải nhẹ.2 Phương pháp nghiên cứu: Tra cứu, tìm hiểu về mạng nơron nhân tạo ứng dụng trong nhận dạng và điều khiển hệ thống [4, 5, 6, …, 18]. Nghiên cứu, xây dựng phương pháp điều khiển dựa trên các phương pháp điều khiển cổ điển, hiện đại và thông minh. Ứng dụng phần mềm Matlab để xây dựng mô hình và mô phỏng việc nhận dạng và điều khiển ổn định các máy phát thông qua bộ ổn định FTDNN-PSS [2, 7]. Thiết kế bộ điều khiển, lập chương trình điều khiển trên Matlab.
Phân tích, đánh giá dựa trên kết quả mô phỏng. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu: Luận văn tập trung chủ yếu thiết kế bộ FTDNN-PSS và xem xét đáp ứng của hệ thống điện, chủ yếu với các nội dung như sau: Thiết kế mạng nơron truyền thẳng có delay hai ngõ vào (dw & dPa) với giải thuật lan truyền ngược BP sai số. Xem xét đáp ứng của hệ thống điện chứa bốn máy phát kết nối với nhau xuất hiện sự cố ba pha giữa đường dây truyền tải trong các trường hợp: gắn phụ tải chuẩn, phụ tải nặng, phụ tải nhẹ, sự cố ngắn mạch ba pha trên đường dây truyền tải. Tính mới và giá trị thực tiễn của đề tài: 1.
Bộ FTDNN-PSS hai ngõ vào (dw & dPa) thay thế cho bộ PSS Kundur một ngõ vào (dw) điều khiển tín hiệu ổn định điện áp kích từ cho hệ thống điện bốn máy phát trong các điều kiện vận hành và các nhiễu loạn khác nhau trong hệ thống. Các kết quả này là nền tảng cho việc nghiên cứu thiết kế bộ PSS có khả năng dập tắt dao động tối ưu nhất cho các nhiễu loạn và các điều kiện vận hành phụ tải khác nhau trong hệ thống điện quy mô lớn hơn, phục vụ các nghiên cứu ở mức độ cao hơn. Nguyễn Vũ Phương Thảo Page 3 Luận văn Tốt Nghiệp GVHD: PGS Ts Quyền Huy Ánh CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG ĐIỆN 2. Các khái niệm cơ bản: 2.
Khái niệm về ổn định: Hệ thống điện vận hành ổn định ở trạng thái cân bằng dưới các điều kiện vận hành bình thường và giữ nguyên trạng thái cân bằng sau khi chịu tác động của nhiễu loạn [3, 5, 11]. Theo cách truyền thống, vấn đề ổn định đã được hiểu là phải duy trì hệ thống hoạt động ở một điểm vận hành đồng bộ. Điều kiện để hệ thống điện hoạt động ổn định là tất cả các máy phát điện đồng bộ ở trạng thái đồng bộ với nhau. Các trạng thái của hệ thống điện khi xuất hiện nhiễu loạn quá độ, gồm nhiễu loạn lớn hoặc nhỏ là cơ sở đánh giá ổn định.
Nhiễu loạn nhỏ như phụ tải thay đổi liên tục và hệ thống phải tự điều chỉnh theo các thông số trên. Hệ thống điện có thể phải hoạt động đúng theo các thay đổi trên và cung cấp công suất đầy đủ cho số lượng lớn phụ tải đó. Đáp ứng của hệ thống điện tới nhiễu loạn kéo theo nhiều thiết bị tác động. Ví dụ, ngắn mạch trên một phần tử hệ thống sẽ được rơle bảo vệ cách ly làm sẽ làm biến đổi việc phân bố công suất; tốc độ rotor máy phát và điện áp thanh cái; điện áp khác nhau sẽ làm kích thích bộ tự động điều chỉnh điện áp máy phát tác động; tốc độ của máy phát điện khác nhau sẽ kích thích bộ điều chỉnh tốc độ động cơ sơ cấp; thay đổi đường dây liên kết các phụ tải có thể khởi động (kích thích) các bộ điều khiển; thay đổi điện áp và tần số sẽ ảnh hưởng đến các phụ tải theo nhiều cấp độ khác nhau phụ thuộc vào các đường đặc tính riêng biệt của thiết bị.
Các nhiễu lớn xảy ra trong hệ thống: ngắn mạch, tăng/giảm tải đột ngột, tải lớn vào hệ thống, mất/giảm kích từ các máy có công suất lớn hoặc mất/giảm công suất cơ của các máy phát đều làm cho hệ thống dao động, trải qua quá trình dao động hệ thống có thể tiến tới trạng thái xác lập mới hoặc có thể làm cho dao động đó càng ngày càng lớn và tiến ra vô cùng, lúc đó hệ thống sẽ mất ổn định. Phân loại: Ổn định trong hệ thống điện được phân làm hai loại: 2.1 Ổn định tĩnh: Nguyễn Vũ Phương Thảo Page 4 Luận văn Tốt Nghiệp GVHD: PGS Ts Quyền Huy Ánh Ổn định tĩnh là khả năng của hệ thống điện trở lại vận hành ở trạng thái ban đầu sau khi hệ thống bị những nhiễu loạn nhỏ kích thích. Nếu cho rằng chế độ xác lập của hệ thống điện tương ứng với vị trí cân bằng thì có thể xét đoán ổn định tĩnh theo một trong những điều kiện sau: Khi hệ thống chịu tác động đủ nhỏ thì các thông số chế độ của hệ thống cũng biến đổi nhỏ. Khi độ lệch của các thông số chế độ của hệ so với vị trí cân bằng đủ bé thì những biến đổi tiếp theo của các thông số cũng sẽ đủ bé.
Đặc điểm của điều kiện làm việc của hệ thống điện là sự xuất hiện thường xuyên những tác động nhỏ không chu kỳ và chính những tác động này làm cho các thông số của hệ biến đổi nhưng rất chậm và không có chu kỳ nên có thể coi như hệ thống ổn định. Vì vậy, xét ổn định của hệ thống điện với hai phương pháp tương đương nhau: khảo sát các tác động bé hoặc các độ lệch thông số bé ở trạng thái ban đầu và sau đó đối với cả hai trường hợp.