Mở đầu Phần II: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần V: Kết luận và khuyến nghị c 6 PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I. Một số vấn đề về hiệu quả 1. Khái niệm: Hiệu quả trong tiếng Anh gọi là: Efficiency. (Hiệu quả kinh doanh, TS.
Vũ Trọng Nghĩa, Đại học Kinh tế quốc dân) - Hiệu quả xét ở góc độ kinh tế học vĩ mô: Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó. Hiệu quả là không lãng phí. - Hiệu quả xét ở góc độ chung và doanh nghiệp: Hiệu quả được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Mối quan hệ tỉ lệ giữa chi phí kinh doanh phát sinh trong điều kiện thuận nhất và chi phí kinh doanh thực tế phát sinh được gọi là hiệu quả xét về mặt giá. Là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định. Công thức: H = K/C Trong đó: H: Hiệu quả K: Kết quả đạt được C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó c 7 1. Các loại hiệu quả - Hiệu quả xã hôi, kinh tế, kinh tế - xã hội và kinh doanh - Hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh - Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và kinh doanh trên từng lĩnh vực - Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn Hiệu quả xã hội - Là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.
- Các mục tiêu xã hội đạt càng cao càng tốt: Giải quyết công ăn, việc làm Xây dựng cơ sở hạ tầng Nâng cao phúc lợi xã hội, mức sống và đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động Đảm bảo và nâng cao sức khỏe cho người lao động Cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường. Hiệu quả kinh tế - Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu kinh tế của một thời kì nào đó. - Các mục tiêu kinh tế đạt càng cao càng tốt: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm quốc nội Thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân bình quân; Hiệu quả kinh tế gắn với nền kinh tế thị trường thuần túy và thường được nghiên cứu ở giác độ quản lí vĩ mô. Hiệu quả kinh tế - xã hội - Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định.
c 8 - Các mục tiêu kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm quốc nộ Thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân bình quân Giải quyết công ăn, việc làm… - Hiệu quả kinh tế - xã hội gắn với nền kinh tế hỗn hợp và được xem xét ở góc độ quản lý vĩ mô. Hiệu quả kinh doanh - Hiệu quả kinh doanh phạm là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Hiệu quả kinh doanh gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Chỉ xem xét ở các doanh nghiệp kinh doanh.
Hiệu quả đầu tư - Hiệu quả đầu tư là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đầu tư xác định. Hiệu quả đầu tư gắn với hoạt động đầu tư cụ thể. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp - Phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực để đạt mục tiêu toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận của nó; - Đánh giá khái quát và cho phép kết luận tính hiệu quả của toàn doanh nghiệp trong một thời kì xác định. Hiệu quả ở từng lĩnh vực - Phản ánh trình độ lợi dụng một nguồn lực cụ thể theo mục tiêu đã xác định; - Hiệu quả ở từng lĩnh vực không đại diện cho tính hiệu quả của doanh nghiệp, chỉ phản ánh tính hiệu quả sử dụng một nguồn lực cá biệt cụ thể.
Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn - Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: c 9 Là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn như: tuần, tháng, quí, năm, vài năm… - Hiệu quả kinh doanh dài hạn: Là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong từng khoảng thời gian dài, gắn với các chiến lược, các kế hoạch dài hạn, lâu dài, gắn với quãng đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. - Mối quan hệ biện chứng giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: Vừa có quan hệ biện chứng với nhau, và có thể mâu thuẫn nhau Chỉ có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn hạn trên cơ sở đảm bảo hiệu quả kinh doanh dài hạn Nếu xuất hiện mâu thuẫn thì chỉ có hiệu quả kinh doanh dài hạn phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế (EE) Phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực ( nhân lực, vật lực, tài lực) để đạt các mục tiêu kinh tế của một thời kì nào đó. (Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân ) Hiệu quả kinh tế là phạm trù phải được quan tâm nghiên cứu ở các hai góc độ vĩ mô và vi mô.
Cũng vì vậy, nếu xét ở phạm vi nghiên cứu, có: - Hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân - Hiệu quả kinh tế ngành - Hiệu quả kinh tế vùng lãnh thổ - Hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh. Muốn đạt được hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành cũng như hiệu quả kinh tế vùng lãnh thổ cao, vai trò điều tiết vĩ mô là cực kỳ quan trọng. Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế c 10 Do có nhiều quan niệm khác nhau về công thức tính định nghĩa hiệu quả kinh tế nên ở phương diện lý thuyết cũng như thực tế cũng có thể có nhiều cách biểu hiện cụ thể khác nhau, có thể sử dụng hai công thức đánh giá hiệu quả phản ánh tính hiệu quả xét trên phương diện giá trị dưới đây: Tính hiệu quả kinh tế (H) (theo chi phí tài chính) Với QG là sản lượng tính bằng giá trị và CTC là chi phí tài chính. Tính hiệu quả kinh tế (H) (theo chi phí kinh doanh ) Với CTT là chi phí kinh doanh thực tế và CPĐ là chi phí kinh doanh “phải đạt”.
Hiệu quả kỹ thuật (TE) Trong mô hình của Farrell, hiệu quả kỹ thuật là khả năng tạo ra mức sản lượng cao nhất tại một mức sử dụng đầu vào và công nghệ hiện có của một hộ sản xuất. Hướng tiếp cận biên được sử dụng rất nhiều trong các nghiên cứu về ứng dụng trong sản xuất và lý thuyết trong những năm qua. Có 2 phương pháp tiếp cận chủ yếu được sử dụng để ước lượng hiệu quả kỹ thuật là: phương pháp tham số (parametric methods) và phương pháp phi tham số (non-parametric methods) (Quan Minh Nhựt, 2012) - Phương pháp phi tham số dựa vào kỹ thuật chương trình tuyến tính toán học (mathematical linear progamming) để ước lượng cận biên sản xuất. Phương pháp này được các nhà nghiên cứu sử dụng với tên gọi phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (data envelopment analysis – DEA.) Phương pháp DEA xây dựng đường biên sản xuất dựa vào số liệu thu thập của mẫu nghiên c 11 cứu bằng công cụ lập trình toán học tuyến tính.
Mức hiệu quả đươc đo lường dưa trên so sánh tương đối với đường biên này (Coelli, 2005). Caves et al. (1982) đã áp dụng các chỉ số năng suất từ hàm khoảng cách của Shephard để làm khung lý thuyết cho việc đo lường năng suất và sự thay đổi của nó mà sau này trở thành phương pháp tiếp cận chỉ số năng suất Malmquist. Trong ngành ngân hàng, cách tiếp cận này được áp dụng rộng rãi để tính toán những thay đổi về công nghệ và tăng năng suất, bao gồm: ( Berg et al.
(1992), Berger and Mester (1997), Grifell-Tatje and Lovell (1997)) - Chỉ số Malmquist (MI) sử dụng dể xác định sự khác biệt hiệu quả giữa hai đơn vị hoặc một đơn vị trong hai khoảng thời gian. Để ước tính thay đổi HQKT và thay đổi tiến bộ công nghệ trong giai đoạn nghiên cứu, tác giả sử dụng chỉ sổ Malmquist phân tích dựa trên tỷ lệ của các sản lượng đầu ra. Chỉ số Malmquist cho phép so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ khác nhau. - Trong phương pháp DEA, việc ước lượng hiệu quả kỹ thuật được thực hiện dựa trên một đường giới hạn (frontier) xác định, và do đó, so sánh hiệu quả giữa hai giai đoạn dựa trên hai đường giới hạn khác nhau là rất phức tạp.
Tuy nhiên, nếu quy về cùng một gốc tọa độ thì vấn đề trở nên đơn c 12 giản hơn với sự giúp đỡ của các hàm khoảng cách (distance functions) 2. Fare và đồng sự (1994) đưa ra mô hình xác định mức thay đổi của năng suất tổng hợp theo thời gian trong đó một DMU ( đơn vị ra quyết định) bất kỳ sẽ được nghiên cứu tại hai thời điểm khác nhau t và t+1 (tương ứng với hai đường frontier khác nhau tại hai thời điểm t và t+1) rồi so sánh sự thay đổi về năng suất tổng hợp của DMU đó. ( Ngô Đăng Thành, 2012) - Cụ thể, trong điều kiện hiệu quả không đổi theo quy mô, chỉ số Malmquist TFP của DMU A tại thời điểm t (điểm At) so với thời điểm t+1 (At+1) có thể được tính toán theo trung bình nhân (geometric mean) của hai chỉ số Malmquist đầu ra (output-based Malmquist index): chỉ số thứ nhất lấy đường giới hạn tại thời điểm t làm cơ sở tính toán, chỉ số thứ hai lấy đường giới hạn thời điểm t+1 làm cơ sở tính toán.