MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là nguồn tài nguyên tái tạo, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người. Ở đâu có nước ở đó có sự sống. Trong cơ thể sống nước chiếm tỷ lớn, khoảng 70% khối lượng cơ thể con người trưởng thành.
Nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn của Đảng và Nhà nước đề ra thì một trong những yếu tố có tính chất then chốt là vấn đề đề phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Trong đó, vấn đề cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân là một trong những yếu tố tiền đề quan trọng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân ở vùng nông thôn. Nước sinh hoạt là một nhu cầu tối cần thiết trong cuộc sống con người, từ lâu trong đấu tranh sinh tồn và phát triển, người dân nông thôn Việt Nam nói chung và người dân Thái Nguyên nói riêng đã khai thác các nguồn nước với các hình thức cấp nước thô sơ để phục vụ ăn uống, sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, do nhận thức của người dân chưa đúng đắn về tầm quan trọng của nước sinh hoạt đối với sức khỏe và cuộc sống, nên việc khai thác cũng như sử dụng các nguồn nước phục vụ cho người dân còn hạn chế.
Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh vừa là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, vừa là nơi tiếp nhận các nguồn thải công nghiệp luyện kim khai khoáng và chất thải sinh hoạt của dân cư ven sông suối. Vì vậy, nguồn nước sông suối không thể sử dụng trực tiếp cho mục đích sinh hoạt. Thái nguyên còn là tỉnh có nguồn nước ngầm khá phong phú với 12 phức hệ chứa 1,5 đến 2 tỷ m3. Qua 19 năm thực hiện chương trình cung cấp n 2 nước sạch và VSMT nông thôn Thái Nguyên đã xây dựng được một số lượng lớn công trình cấp nước sạch đảm bảo cung cấp được nước sạch cho 78% dân số nông thôn.
Trong những năm tới, Thái Nguyên sẽ tiếp tục triển khai các dự án cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn trong đó có xã Bình Thuận - huyện Đại Từ. Với đặc thù là một xã miền núi của huyện Đại Từ, xã Bình Thuận đang gặp phải những vấn đề khó khăn trong việc cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân. Người dân tại xã Bình Thuận sử dụng nguồn nước sinh hoạt chủ yếu là nước giếng đào. Trong những năm gần đây, nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn xã có xu hướng suy giảm cả về số lượng và chất lượng không đảm bảo cho sinh hoạt.
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS. Trương Thành Nam, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt và hiệu quả mô hình cung cấp nước sạch tại xã Bình Thuận - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt xã Bình Thuận. - Phân tích và đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt xã Bình Thuận.
- Đánh giá hiệu quả mô hình cung cấp nước sạch tại xã Bình Thuận. Yêu cầu của đề tài - Căn cứ vào luật Bảo vệ môi trường 2005, luật Tài nguyên nước, các TCVN đối với nước sinh hoạt để tiến hành đánh giá đúng chất lượng nguồn nước hiện nay đang được người dân xã Bình Thuận sử dụng làm nước sinh hoạt và hiệu quả của mô hình cung nước sạch tại xã Bình Thuận. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Củng cố lý thuyết, kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập. - Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Bổ sung tư liệu cho học tập.
Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá vấn đề thực tế về tình hình sử dụng nước sinh hoạt và hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Bình Thuận. - Đánh giá được tính hiệu quả của mô hình cung cấp nước sạch tại xã Bình Thuận. - Nâng cao chất lượng nước phục vụ cho người dân trên địa bàn xã. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Tầm quan trọng của nước Nước là nguồn tài nguyên tái tạo, bao phủ 3/4 bề mặt trái đất. Trong đó, 97% nước trên Trái Đất là nước mặn, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí.
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người. Ðể sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước (Vũ Minh Cát và cộng sự, 2002) [3]. Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạch quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ.
Lượng nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng n 5 xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105. Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp). Hiện nay, trong quá trình khai thác và sử dụng con người đã làm cạn kiệt và ô nhiễm các nguồn nước (Nguyễn Thị Phương Loan, 2005) [9].
Khái niệm ô nhiễm nước Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã". Như vậy, ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng được cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật. - Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hay nhân tạo (Lê Văn Khoa, 2003) [8]. + Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng.
+ Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước. Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: Ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. Ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm và biển. n 6 - Các tác nhân gây ô nhiễm nước có thể chia ra làm nhiều loại: Kim loại nặng (As, Pb, Cr, Sb, Cd, Hg, Mo, Al, Cu, Zn, Fe, Al, Mn.
- Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi bị ô nhiễm (Phạm Ngọc Dũng và cộng sự, 2005) [4]. + Giảm độ pH của nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO2- và NO3- trong nước. + Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO32+ trong nước ngầm và nước sông do nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat. + Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng đi vào môi trường cùng nước thải, từ khí quyển và từ các chất thải rắn.
+ Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy bằng con đường sinh học (các chất hoạt động bề mặt và thuốc trừ sâu). + Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên, trước hết là: Pb3+, Cd+, Hg2+, Zn2+, As3+, Fe2+, Fe3+… + Giảm nồng độ oxy tự nhiên hòa tan trong nước tự nhiên do quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí. + Giảm độ trong của nước. Khái niệm nước sạch Nước như thế nào được coi là hợp vệ sinh và sạch? - Nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thoả mãn các yêu cầu chất lượng: Không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi.
n 7 - Nước được coi là nước sạch phải trong, không có màu, không có mùi vị lạ gây khó chịu cho người sử dụng, không chứa các mầm bệnh và các chất độc hại. - Nước sạch phải đạt các chỉ tiêu theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt - QCVN 02:2009/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/6/2009. - Các nguồn nước sạch thông thường gồm: + Hệ thống cung cấp nước tập trung (nước máy): Nước lấy từ giếng khoan hay sông, hồ được đưa qua hệ thống xử lý dàn mưa, bể lắng, bể lọc… rồi vào bể chứa lớn từ đó theo đường ống dẫn về cho các hộ gia đình sử dụng. + Nước giếng khơi.
+ Nước giếng khoan… Mỗi gia đình cần có ít nhất một trong các nguồn nước sạch nêu trên. Nếu chưa có, nên hỏi ý kiến của cơ quan y tế hoặc cơ quan chuyên môn để được tư vấn xây dựng cho gia đình một nguồn nước sạch thích hợp (Bộ Y tế, 2011) [1].