Đặt vấn đề Trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nước ta đã có bước phát triển khá toàn diện và to lớn. Nông nghiệp phát triển ổn định và có xu hướng tái sản xuất theo chiều sâu, đời sống vật chất, tinh thần nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn thay đổi theo chiều hướng lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế xã hội, góp phần quan trọng vào sự ổn định của đất nước, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang đứng trước những khó khăn, thách thức rất lớn. Sự phát triển của nông nghiệp có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại và thiếu tính bền vững; nông thôn đang có chiều hướng tụt hậu; đời sống của nông dân nhìn chung còn thấp, ở nhiều vùng chậm được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc mà vấn đề môi trường nông thôn đang ở mức báo động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sông nhân dân Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này không thể không kể đến tình hình ngành chăn nuôi nước ta còn nhiều bất cập: chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình, tự phát, nhỏ lẻ, nguồn nước thải và chất thải chăn nuôi chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu là nguyên nhân dẫn đến trực tiếp phát sinh dịch bệnh cho đàn gia súc.
Đồng thời nó có thể lây lan một số bệnh cho con người và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Năm 2011 cả nước có tổng 20078 trang trại, đến năm 2013 đã tăng lên 22655 trang trại. Nguồn nước thải chăn nuôi là một nguồn nước thải có chứa nhiều hợp chất hữu cơ, virus, vi trùng, trứng giun sán… Nguồn nước này có nguy cơ gây ô nhiễm các tầng nước mặt, nước ngầm và trở thành n 2 nguyên nhân trực tiếp phát sinh dịch bệnh cho đàn gia súc. Đồng thời nó có thể lây lan một số bệnh cho con người và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
Đây cũng là vấn đề đáng lo ngại và bức xúc của rất nhiều địa phương. Ngọc Thanh là một xã thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xuất phát từ một xã thuần nông, người dân sống dựa vào cây lúa nhưng một vài năm gần đây được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư vào chăn nuôi quy mô trang trại. Tình hình chăn nuôi trong xã có những chuyển biến tích cực. Để đánh giá hiện trạng môi trường chăn nuôi, các ảnh hưởng của ô nhiễm nước thải và chất thải do chăn nuôi gây ra và đưa ra các biện pháp xử lý, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường chăn nuôi trên địa bàn xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên” 1.
Mục tiêu của đề tài và yêu cầu của đề tài - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên - Đánh giá hiện trạng nước thải chăn nuôi trên địa bàn xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên - Đánh giá ảnh hưởng của nước thải chăn nuôi đến môi trường nước xung quanh. - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi đến môi trường không khí. - Ðánh giá chung và đề xuất các biện pháp xử lý giảm thiểu ô nhiễm do nước thải và chất thải chãn nuôi gây ra. Yêu cầu của đề tài - Nắm chắc quy chuẩn Việt Nam QCVN40: 2011/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp.
- Nắm chắc phương pháp điều tra, phỏng vấn, đánh giá, tổng hợp số liệu. - Nắm chắc phương pháp lấy mẫu nước thải. n 3 - Số liệu điều tra, phân tích phải chính xác, trung thực. - Giải pháp đưa ra phải phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Ý nghĩa đề tài Ý nghĩa khoa học - Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế. - Là cơ hội để tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm trong thực tế. - Củng cố các kiến thức và lý luận thực tiễn vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi. - Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao được phương pháp làm việc có khoa học có cơ sở, giúp sinh viên biết tổng hợp bố trí thời gian hợp lý trong công việc.
- Nâng cao kiến thức thực tế, bổ sung tư liệu cho học tập. - Tích luỹ được kinh nghiệm cho công việc khi đi làm. Ý nghĩa thực tiễn Qua khảo sát, tìm hiểu thực tế giúp hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm ở các trại chăn nuôi, những khó khăn, thách thức mà các trang trại chăn nuôi đang gặp phải với những vấn đề xử lí nước thải cũng như xử lí ô nhiễm môi trường. Từ đó có thể đánh giá được hiện trạng môi trường ở các trang trại chăn nuôi tại xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên và nghiên cứu biện pháp xử lí, đồng thời làm giảm thiểu mức độ ô nhiễm nước thải trong hoạt động chăn nuôi.
Nhằm mục tiêu đưa ngành chăn nuôi của nước ta phát triển một cách bền vững. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận a) Khái niệm về chất thải chăn nuôi Chất thải chăn nuôi là chất thải phát sinh trong quá trình chăn nuôi như phân, nước tiểu, xác súc vật,.
Trong chất thải chăn nuôi có nhiều chất hữu cơ, vô cơ, vinh sinh vật và trứng ký sinh trùng có thể gây bệnh cho con người và sinh vật b) Nguồn gốc phát sinh chất thải chăn nuôi Chất thải do hoạt động chăn nuôi bao gồm ở dạng rắn, lỏng, khí như phân, thức ăn rơi vãi, nước rửa chuồng …và khí thải chăn nuôi thải ra. Mặt khác, khối lượng chất thải sinh ra từ vật nuôi phụ thuộc vào chủng loại, giống, giai đoạn sinh trưởng, chế độ dinh dưỡng và phương thức vệ sinh chuồng trại Bảng 2.1: Lƣợng phân gia súc, gia cầm thải ra hàng ngày tính trên tỉ trọng phần trăm trọng lƣợng cơ thể Loại gia súc Khối lƣợng phân (% tỉ trọng) Lợn 6-8 Bò sữa 7-8 Bò thịt 5-8 Gia cầm 5 ( nguồn: Trương Thanh Cảnh , 2006) c) Phân loại, thành phần của chất thải chăn nuôi Chất thải rắn - Phân và nước tiểu gia súc Lượng phân và nước tiểu gia súc thải ra trong một ngày đêm được tính toán và cho trong bảng sau: n 5 Bảng 2.2: Số lƣợng chất thải của một số loài gia súc Loại gia súc, gia Lƣợng phân Lƣợng nƣớc tiểu cầm (kg/ngày) (lít/ ngày) Trâu bò lớn 20-25 10-15 Lợn <10 kg 0,5 - 1 0,3 - 0,7 Lợn 15-45 kg 1-3 0.7-2 Lợn 45-100 kg 3-5 2-4 Gia cầm 0,08 (Theo Phạm Trung Thủy (2002) Phân lợn được xếp vào loại phân lỏng hoặc hơi lỏng, thành phần phân lợn chủ yếu gồm nước (56 - 83%) và các chất hữu cơ. Ngoài ra, còn tỷ lệ NPK dưới dạng các chất vô cơ. Thành phần hóa học của phân phụ thuộc vào dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe, cách nuôi dưỡng chuồng trại, loại gia súc, gia cầm và biện pháp kỹ thuật chế biến khác nhau Trong thành phần phân gia súc nói chung và lợn nói riêng còn chứa các virus, vi trùng trứng giun sán và nó có thể tồn tại vài ngày, vài tháng trong phân và nước tiểu của vật nuôi và môi trường - Xác súc vật chết Xác súc vật chết do bệnh là nguyên nhân chính cần phải xử lý triệt để nhằm tránh lây bệnh và vật nuôi - Thức ăn dư thừa và vật liệu lót chuồng và các chất thải Các loại chất thải này bao gồm: cám, bột ngũ cốc, bột tôm, bột cá, các loại rơm rạ vì vậy nếu không được xử lý tốt hoặc xử lý không đúng phương pháp thì nó.
Sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng xung quang n 6 Chất thải lỏng Trong các loại chất thải trong chăn nuôi, chất thải lỏng là loại chất thải có khối lượng lớn nhất. Đặc biệt khi lượng nước thải rửa chuồng được hòa lẫn với nước tiểu của gia súc. Đây cũng là loại chất thải khó quản lý, khó sử dụng. Nước thải chăn nuôi là một trong những loại nước thải rất đặc trưng, có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao bằng hàm lượng chất hữu cơ, cặn lơ lửng, N, P và sinh vật gây bệnh.
Nó nhất thiết phải được xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường. Lựa chọn một quy trình xử lý nước thải cho một cơ sở chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào thành phần tính chất nước thải, bao gồm: - Các chất hữu cơ và vô cơ Trong nước thải chăn nuôi, hợp chất hữu cơ chiếm 70 - 80% gồm cellulose, protit, acid amin, chất béo, hidratcarbon và các dẫn xuất của chúng có trong phân, thức ăn thừa. Hầu hết các chất hữu cơ dễ phân hủy. Các chất vô cơ chiếm 20 - 30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO2-4 - Nitơ (N) và Photpho (P) Khả năng hấp thụ N và P của các loài gia súc, gia cầm rất kém, nên khi ăn thức ăn có chứa N và P thì chúng sẽ bài tiết ra ngoài theo phân và nước tiểu.
Trong nước thải chăn nuôi lợn thường chứa hàm lượng N và P rất cao. Hàm lượng N-tổng số trong nước thải chăn nuôi 571 – 1026( mg/l), Photpho tổng số từ 39 – 94(mg/l). - Vi sinh vật gây bệnh Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh. Cơ sở pháp lý Công tác quản lí Nhà nước về môi trường phải được dựa trên các văn bản pháp luật, pháp qui của các cơ quan quản lí Nhà nước.
Từ năm 1993 đến nay đã có các văn bản chính sau trong lĩnh vực quản lí Nhà nước về bảo vệ môi trường (BVMT): - Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 - Nghị định số 21/2008/NĐ - CP ngày 28 tháng 2 năm 2008 của Chính Phủ: Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ- CP ngày 9 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT 2005. - Nghị định số 108/2006/NĐ - CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính Phủ: Về việc thi hành một số điều Luật đầu tư để có chính sách hỗ trợ cơ sở hạ tầng cho các khu chăn nuôi tập trung. - Thông tư số 07/2007/TT - BTNMT ngày 3 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường: V/v hướng dẫn phân loại danh mục cơ sở gây ÔNMT cần phải xử lý.