Đặt vấn đề Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa, với tốc độ phát triển rất nhanh, khai thác tài nguyên phục vụ cho công nghiệp và các ngành nghề đã trở thành phổ biến. Nhưng khai thác và quản lý tài nguyên không có kế hoạch đã đem tới những hậu quả to lớn mà con người đang phải gánh chịu và giải quyết hậu quả đó. Nguồn năng lượng thường được các quốc gia trên thế giới sử dụng nhiều nhất là thủy văn, không chỉ trong nước mà thế giới đang có rất nhiều các công trình thủy điện được xây dựng, các công trình đã cung cấp đầy đủ về nhu cầu tiêu thụ năng lượng, từ việc phục vụ cho các gia đình, cá nhân, tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh doanh, khu công nghiệp, để đảm bảo sự phát triển nên kinh tế, ngoài ra còn tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người dân, những lợi ích mang lại của việc ngăn các con sông làm thủy điện, nó tác động tích cực là dòng chảy vào hạ lưu các con sông sẽ được điều tiết bởi các hồ chứa thuỷ điện, lượng nước mùa khô có thể tăng lên và giảm dòng chảy mùa lũ (có nghiên cứu dự báo tăng dòng chảy mùa khô khoảng 30%, giảm 6% diện tích xâm nhập mặn và giảm 5% đỉnh lũ). Tuy nhiên, các mặt tích cực đó còn phụ thuộc vào chế độ vận hành, điều tiết của toàn bộ hệ thống hồ chứa thuỷ điện lớn trên lưu vực, nhất là chế độ vận hành của những hồ chứa nước lớn, có ý nghĩa điều tiết và gần biên giới, và phụ thuộc ý chí chủ quan của các nước.
Các nghiên cứu đều cho thấy, việc xây dựng các hồ chứa trên sông sẽ phá vỡ hệ sinh thái và cắt đứt các nguồn trầm tích của sông, như: phá vỡ mối liên hệ tự nhiên giữa con sông và vùng đất nó chảy qua, tác động đến toàn bộ lưu vực sông và hệ thống sinh thái nó hỗ trợ; phá vỡ hệ sinh thái trên sông và vùng đồng bằng, vốn thích nghi chặt chẽ với chu kỳ lũ của con sông, phá vỡ hệ động, thực vật dựa vào lũ để sinh sản, ấp trứng, di trú., Bên cạnh đó các hồ chứa trên sông còn làm suy giảm các loại trầm tích xuống đáy sông, cho phép sự hình thành bờ sông, châu thổ, phù sa, hồ, tự nhiên, đường bờ biển., và làm giảm chất dinh dưỡng bồi đắp cho các vùng đồng bằng do lũ bồi đắp hằng năm. Nếu các đập thuỷ điện không có các e 2 đường di cư cho cá, thì đồng nghĩa với nguồn lợi thủy sản sẽ không còn. Hằng năm vào mùa lũ, một lượng cá khổng lồ di cư sinh sản, cùng với nguồn cá linh, cá sặt, các loại cá quý hiếm khác như cá hô, thờn bơn, thác lác, tôm càng, mè vinh. đổ về tạo nguồn sống cho cư dân hai bờ sông.
Nguồn lợi này sẽ nhanh chóng bị mất đi do các đoạn sông bị chia cắt bởi các đập ngăn nước. Ngoài ra còn có các nguồn thủy sinh, rong tảo, vi sinh vật, có khả năng điều hòa, cân bằng sinh thái sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng. Mất đi sự giàu có về sinh thái này sẽ là thảm họa. Nhà máy thủy điện Sơn La cũng như vậy, bên cạnh những tác động tích cực nó cũng mang lại những tác động tiêu cực, nhất là vấn đề môi trường sinh thái ở vùng đất bán ngập ở đây.
Trước thực tế đó, được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên và dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS. Đàm Xuân Vận, em tiến hành nghiên cứu đề tài”Đánh giá đặc điểm về môi trường sinh thái vùng đất bán ngập lưu vực thủy điện Sơn La”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá đặc điểm về môi trường sinh thái vùng đất bán ngập lưu vực thủy điện Sơn La.
Trên cơ sở đánh giá phân tích, đề xuất một số giải pháp, biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái ở vùng đất bán ngập lưu vực thủy điện Sơn La. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá, phân tích môi trường đất tại vùng đất bán ngập lưu vực thủy điện Sơn La. - Đánh giá, phân tích đặc điểm môi trường nước, vùng đất bán ngập lưu vực thủy điện Sơn La. - Đánh giá, đặc điểm của hệ động, thực vật, vùng đất bán ngập lưu vực thủy điện Sơn La.
- Đề xuất giải pháp phù hợp đảm bảo cho các vấn đề môi trường đất, nước, động thực vật, tại vùng bán ngập lưu vực thủy điện Sơn La. Yêu cầu của đề tài 1. Yêu cầu chung - Đánh giá trung thực, khách quan về môi trường sinh thái vùng đất bán ngập thủy điện Sơn La. Yêu cầu cụ thể - Kết quả phân tích thông số, phải đảm bảo khách quan, đúng quy định về QCVN, TCVN về lấy mẫu, bảo quản mẫu và phân tích mẫu.
- Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi với điều kiện của khu vực đó. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Đóng góp về mặt lí luận cho việc giải thích mối tương quan giữa môi trường đất - môi trường nước - động thực vật, ảnh hưởng đến mặt môi trường sinh thái vùng đất bán ngập. - Tìm hiểu một số thực vật có thể phát triển được ở vùng đất bán ngập thủy điện Sơn La.
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức lý thuyết đã học vào thực tế nghiên cứu. Ý nghĩa thực tế - Hiểu biết được đặc điểm môi trường sinh thái vùng bán ngập. - Góp phần cung cấp cơ sở khoa học trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, vùng đất bán ngập ở các lưu vực nhà máy thủy điện. - Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái vùng đất bán ngập nước.
- Đưa ra các biện pháp sử dụng các vùng đất bán ngập nước để tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái. e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Khái niệm môi trường sinh thái Môi trường sinh thái: là một trong những vấn đề được đề cập đến khá nhiều trong thời gian qua ở nước ta trên các bình diện khác nhau.
Dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ MTST. Nhằm bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng, đảm bảo quyền con người được sống trong MT trong, sạch, đẹp, phục vụ sự nghiệp PTBV đất nước, Đảng và Nhà nước đã ra nhiều văn bản luật, dưới luật, các chỉ thị, nghị quyết về MTST và bảo vệ MTST. Trong một loạt các văn bản quy phạm pháp luật như “Luật Bảo vệ môi trường và văn bản hướng dẫn thi hành”; “Luật Bảo vệ môi trường năm 2005”; “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia”. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định nhiều nội dung quan trọng về MTST cũng như bảo vệ MTST.
Theo đó, bảo vệ MTST được quan niệm là bảo vệ các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và các giống loài động thực vật. Thực chất của bảo vệ MTST là bảo vệ MT nước, MT không khí, bảo vệ TNTN, bảo tồn đa dạng sinh học. Tác giả Nguyễn Minh Hằng trong bài viết “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người”[13] khẳng định, MTST là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu. Trong quá trình sinh sống vì nhiều lý do khác nhau, con người đã làm suy thoái MTST, thể hiện rõ nhất ở sự suy thoái tầng ôzon, gây “hiệu ứng nhà kính”, ô nhiễm nguồn nước sạch.
Các giải pháp cơ bản mà tác giả nêu ra nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm MTST là: xây dựng ý thức sinh thái, kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái trong quá trình sản xuất. Tác giả Vũ Trọng Dung, trong cuốn sách “Đạo đức sinh thái và giáo dục e 5 đạo đức sinh thái”[11] quan niệm “môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể, của con người”[11, tr. Theo tác giả thì các nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng ô nhiễm MTST là các vấn đề về công nghiệp hóa, kỹ thuật hóa, sự phát triển dân số… Không chỉ nhấn mạnh một phương diện quan trọng trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm MTST đó là giáo dục đạo đức sinh thái, tức là giáo dục thái độ, ý thức, hành vi tôn trọng và yêu quý thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ MTST cho mọi chủ thể, tác giả còn khẳng định sự thống nhất giữa nghĩa vụ đạo đức với nghĩa vụ pháp lý trong việc giữ gìn và bảo vệ MTST là đòi hỏi cấp bách đối với mỗi người và đó cũng là giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề ô nhiễm MTST ở Việt Nam hiện nay. Như vậy, dù hiểu theo khía cạnh nào thì MTST vẫn được quan niệm như một chỉnh thể trọn vẹn có quan hệ với sự ổn định và phát triển của xã hội.
Đó là nơi cung cấp cho con người các sản phẩm vật chất với tính cách là yếu tố đầu vào và chứa đựng các sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất. MTST không chỉ bao gồm các hợp chất vô cơ mà còn có cả các hợp chất hữu cơ có sẵn từ tự nhiên hoặc được tạo ra từ con người. Nếu trong quá trình sản xuất, con người chỉ biết khai thác triệt để các nguồn lợi từ tự nhiên mà không biết tái tạo, phục hồi, không kiểm soát chặt chẽ đầu ra của quá trình sản xuất, các chất thải độc hại được xả thẳng ra MT, sẽ dẫn đến huỷ hoại MTST. Xuất phát từ những quan điểm trên, có thể nhận định: (1) Nói đến MTST là nói đến một bộ phận của giới tự nhiên có tồn tại sự sống; (2) MTST được cấu thành từ các yếu tố vô cơ (đất, nước, TNTN.) và hữu cơ (động - thực vật…); (3) MTST còn được gọi là môi trường sống nếu xét nó trong mối tương quan với sự sống, sự tồn tại của đối tượng vật chất sống nhất định; (4) MTST còn được gọi là “môi trường tự nhiên”, “môi trường sinh thái tự nhiên”.
Ở nước ta, thuật ngữ “Bảo vệ môi trường sinh thái” được Đảng và Nhà nước đề cập từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và được nhắc lại trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.