MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Từ xa xƣa cha ông ta đã có câu “nhất nƣớc nhì phân tam cần tứ giống”, đúng nhƣ vậy nƣớc là nhân tố khởi nguồn của sự sống. Nƣớc giữ cho khí hậu tƣơng đối ổn định và pha loãng các yếu tố gây ô nhiễm môi trƣờng, nó là thành phần cấu tạo chính trong cơ thể sinh vật chiếm 50% - 97% trọng lƣợng của cở thể, chẳng hạn nhƣ ở ngƣời nƣớc chiếm 70% trọng lƣợng cơ thể và ở sữa biể nƣớc chiếm đến 97% trọng lƣơng cơ thể. Nƣớc bao phủ 71% diện tích trái đất trong đó có 97% là nƣớc mặn, còn lại là nƣớc ngọt. Trong đó 3% lƣợng nƣớc ngọt trên trái đất thì có khoảng hơn ¾ lƣợng nƣớc mà con ngƣời không sử dụng đƣợc vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng hơi trong khí quyển và dạng tuyết trên lục địa …, chỉ có khoảng 0,5% lƣợng nƣớc ngọt hiện diện trên sông, suối, ao, hồ mà con ngƣời đã và đang sử dụng, tuy nhiên nếu ta trừ phần nƣớc bị ô nhiễm ra thì chỉ có khoảng 0,003% là nƣớc ngọt sạch mà con ngƣời có thể sử dụng đƣợc, nếu tính ra trung bình mỗi ngƣời đƣợc cung cấp 879.000 lít nƣớc ngọt để dụng (Miller,1988) Theo Báo cáo của Liên Hợp Quốc về Các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ năm 2012, vẫn còn khoảng 11% dân số thế giới, tƣơng đƣơng khoảng 780 triệu ngƣời không tiếp cận đƣơ ̣c với nguồ n nƣớc sạch.
Cùng với những diễn biến bất thƣờng của thiên tai do biế n đổ i khí hâ ̣u với quy mô và cƣờng độ ngày càng gia tăng đang làm cho nguồ n nƣớc ngà y càng trở nên suy thoái và cạn kiệt. Theo Cục Quản lý Tài nguyên nƣớc, tổng lƣợng nƣớc mặt của Việt Nam ƣớc tính khoảng 830 - 840 tỉ m3/năm. Nƣớc dƣới đất là nguồn cung cấp nƣớc sinh hoạt cho gần 55% ngƣời dân Việt Nam. Tổng trữ lƣợng tiềm năng n 2 nƣớc dƣới đất trên toàn lãnh thổ (chƣa kể phần hải đảo) ƣớc tính khoảng 2.000 m3/s, tƣơng đƣơng 63 tỉ m3/năm.
Tài nguyên nƣớc Việt Nam đƣợc xếp vào loại trung bình trên thế giới, nhƣng ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững. Vì vậy việc đánh giá hiên trạng sử dạng nƣớc và chất lƣợng nguồn nƣớc mà ngƣơi dân đang sử dụng là cần thiết, đặc biết là ở các xã vùng cao nhƣ xã Kim Hỷ nơi đầu nguồn của các con sông, suối… Để từ đó đề xuất những biện những biện pháp xử lý và sử dụng hợp lý nguồn nƣớc đầu nguồn và bảo vệ nguồn tài nguyên đó. Với những lý do đó, việc lựa chọn thực hiện đề tài “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt vùng cao tại xã Kim hỷ - huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Muc đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1.1 Mục đích của đề tài Đánh giá tình hình sử dụng nƣớc sinh hoạt tại địa bàn xã và chất lƣợng nƣớc của một số điểm điều tra.
Xác định thuận lợi khó khăn về cấp nƣớc của trên địa bàn xã. Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục trong trong việc sử dụng nƣớc sinh hoạt cho ngƣời dân, 1.2 Yêu cầu của đề tài Đánh giá đƣợc tình hình sử dụng nƣớc của ngƣời dân. Điều tra thu thập thông tin, phân tích để xác định các nguồn, các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng nƣớc sinh hoạt. Điều tra thu thập thông tin về nhu cầu sử dụng nƣớc sạch của ngƣời dân địa phƣơng Số liệu phản ánh trung thực, khách quan.
Những đề xuất giải pháp đƣa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phƣơng. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Đề tài còn làm tài liệu cho các công trình nghiên cứu khoa học khác về nƣớc sinh hoạt. Tạo điều kiên cho sinh viên trực tiếp làm nghiên cứu khoa hoc, củng cố kiến thức.
Nâng cao, tích lũy khả năng nghiên cứu, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học. Nâng cao năng lực cũng nhƣ khả năng nghiên cứu khoa học sau khi ra trƣờng. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài góp phần thông tin về tinh hình sử dụng nƣớc sinh hoạt vùng nông thôn. Tìm ra các nguồn gây ô nhiễm nƣớc sinh hoạt nông thôn.
Tạo số liệu cơ sở cho công tác quản lý, xây dựng kế hoạch xử lý, khắc phục. Nâng cao nhận thức về việc sử dụng nguồn nƣớc, để từ đó sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn nƣớc. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về nƣớc sinh hoạt 2.1 Hiện trạng tài nguyên nước trên thế giới Nhu cầu nƣớc càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con ngƣời. Theo sự ƣớc tính, bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lƣợng nƣớc cung cấp đƣợc sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10%cho sinh hoạt.
Tuy nhiên, nhu cầu nƣớc sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia. Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển, 70% lƣợng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nƣớc tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện Nƣớc quốc tế (SIWI) đƣợc công bố tại Tuần lễ Nƣớc thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển. Thực tế trên khiến nguồn nƣớc dùng trong sinh hoạt của con ngƣời bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nƣớc đang phát triển là do không đƣợc tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nƣớc) và các bệnh liên quan đến nƣớc.Thiếu vệ sinh và thiếu nƣớc sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lƣơng Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ ngƣời phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nƣớc và 2/3 cƣ dân trên hành tinh có thể bị thiếu nƣớc. Theo ƣớc tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chƣa đƣợc sử dụng nƣớc sạch và khoảng 20 triệu (59%) chƣa có nhà tiêu hợp vệ sinh Con số này còn cao hơn ở vùng các dân tộc ít ngƣời và vùng sâu vùng xa.000 trẻ em tử n 5 vong vì nƣớc bẩn và vệ sinh kém. Đây là con số đƣợc Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF công bố. Giám đốc Điều hành UNICEF, bà Ann M.
Veneman cho biết: “Trên thế giới, cứ 15 giây lại có một trẻ em tử vong bởi các bệnh do nƣớc không sạch gây ra và nƣớc không sạch là thủ phạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dƣỡng. Một trẻ em lớn lên trong những điều kiện nhƣ thế sẽ có ít cơ hội để thoát khỏi cảnh đói nghèo”. Hiện có tới 10% trẻ em ở thành phố không có nhà tiêu. Con số này ở nông thôn là 40%.
Thiếu nƣớc sạch và vệ sinh ảnh hƣởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe của trẻ em ở Việt Nam (44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻ em dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng). Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đông Á cho thấy chất lƣợng nƣớc ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em. Tình trạng ô nhiếm a-sen (thạch tín) và flo (fluoride) trong nƣớc ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu ngƣời dân trong khu vực. Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng nƣớc bẩn gây ra đã ảnh hƣởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em.
Hàng ngày có rất nhiều em ở các nƣớc đang phát triển không đƣợc đến trƣờng vì bị các bệnh nhƣ tiêu chảy, nhiễm trùng đƣờng ruột. Hơn nữa, nhiều học sinh gái không thể đến trƣờng đi học nếu không có công trình nƣớc và vệ sinh riêng biệt cho các em. Tại diễn đàn của Trẻ em thế giới về nƣớc tổ chức tại Mehico ngày 21/3, UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vì không có nƣớc sạch.Theo đó, trẻ em là ngƣời phải trả giá cao nhất khi không đƣợc sử dụng nƣớc sạch.Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dƣới năm tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất (căn bệnh này gây tử vong cho 4500 trẻ em mỗi ngày).2 Hiện trạng tài nguyên nước ở Việt Nam Giống nhƣ một số nƣớc trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trƣớc thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị. Thực trạng ô nhiễm nƣớc mặt : Hiện nay chất lƣợng nƣớc ở vùng thƣợng lƣu các con sông chính còn khá tốt.
Tuy nhiên ở các vùng hạ lƣu đã và đang có nhiều vùng bị ô nhiễm nặng nề. Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa khô khi lƣợng nƣớc đổ về các con sông giảm. Chất lƣợng nƣớc suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu nhƣ : BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Ô nhiễm nƣớc mặt khu đô thị: các con sông chính ở Việt Nam đều đã bị ô nhiễm.
Ví dụ nhƣ sông Thị Vải, là con sông ô nhiễm nặng nhất trong hệ thống sông Đồng Nai, có một đoạn sông chết dài trên 10km. Giá trị đo thƣờng xuyên dƣới 0.5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan ( 0.04 mg/l) Với giá trị gần bằng 0 nhƣ vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống. Thực trạng ô nhiễm nƣớc dƣới đất: Hiện nay nguồn nƣớc dƣới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nhƣ bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nƣớc dƣới đất bị hạ thấp. Hiện tƣợng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Khai thác nƣớc quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tƣợng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển. Nƣớc dƣới đất bị ô nhiễm do việc chon lấp gia cầm bị dịch bệnh không đúng quy cách.