Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất là tài nguyên thiết yếu đối với đời sống sinh vật và sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động lưu trữ và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) không đúng quy cách đã gây ra tình trạng suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất. Tại các điểm tồn lưu hóa chất cấm hoặc quá hạn sử dụng, độc chất không chỉ tích tụ cục bộ mà còn có nguy cơ rửa trôi vào lưu vực sông hồ, thẩm thấu xuống tầng nước ngầm, trầm tích, từ đó xâm nhập vào chuỗi thức ăn thông qua hiện tượng khuếch đại sinh học, đe dọa trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng.

Nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp, từ những năm 70 của thế kỷ XX, hệ thống kho trung chuyển HCBVTV đã được thiết lập rộng khắp từ trung ương đến địa phương tại Việt Nam. Tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, kho trung chuyển hóa chất tại xóm Na Long, xã Hóa Trung được vận hành từ những năm 1980 và dừng hoạt động vào năm 1992. Sau khi giải tỏa, công tác hoàn nguyên không bảo đảm quy trình kỹ thuật: các thùng phuy chứa hóa chất bị chôn lấp sơ sài, đất nền kho bị san gạt và tận dụng làm mặt bằng dân sinh, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp (xưởng đóng gạch nhẹ) và đất canh tác. Khu vực này phát sinh mùi hóa chất nồng nặc khi thời tiết thay đổi, làm gia tăng nguy cơ phơi nhiễm mãn tính các bệnh lý hiểm nghèo cho cư dân lân cận. Trước thực trạng địa phương chưa có công trình rà soát, đánh giá định lượng ô nhiễm trên quy mô tổng thể để phục vụ xử lý triệt để, đề tài khóa luận của tác giả Nguyễn Thế Đàn đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm 03 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường đất do HCBVTV tồn lưu tại khu vực nghiên cứu.
  2. Đánh giá ảnh hưởng của việc ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật đến sức khỏe người dân địa phương.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường do HCBVTV.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

  • Điều tra, thu thập thông tin và dữ liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn.
  • Khảo sát thực địa, lấy mẫu đất và phân tích hàm lượng các hoạt chất tồn dư điển hình.
  • Phỏng vấn điều tra xã hội học nhằm đánh giá nhận thức và tình trạng bệnh tật liên quan đến phơi nhiễm HCBVTV.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ xử lý môi trường và phương án quản lý có tính khả thi, phù hợp thực tế địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Môi trường đất xung quanh kho hóa chất bảo vệ thực vật cũ trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá dư lượng HCBVTV trong đất và các tác động tới sức khỏe cộng đồng liên quan đến tồn lưu hóa chất tại kho cũ.
  • Phạm vi không gian: Điểm kho hóa chất cũ tại xóm Na Long, xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (khu vực hiện thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Phạm Văn Tứ).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm chuyên ngành môi trường và độc chất học:

  • Hóa chất bảo vệ thực vật (Pesticide): Hợp chất tự nhiên hoặc tổng hợp hóa học dùng để phòng ngừa, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại (gồm thuốc trừ sâu - insecticide, thuốc trừ nấm - fungicide, thuốc trừ vi khuẩn - bactericide, thuốc trừ cỏ - herbicide, thuốc trừ rong tảo - algicide).
  • Độc tính và chỉ số độc học: Khái niệm độc tính cấp tính biểu thị qua LD50 (liều gây chết 50% cá thể thí nghiệm, tính bằng mg/kg thể trọng) và LC50 (nồng độ gây chết 50% cá thể thí nghiệm trong không khí hoặc nước); độc tính mãn tính biểu thị khả năng tích lũy sinh học, gây biến đổi cấu trúc tế bào, đột biến gen, quái thai và ung thư.
  • Đặc tính các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs): Phân tích sâu về hai hợp chất clo hữu cơ tồn lưu gồm DDT (Dichlo-Dibenzen-Trichlothan, phát minh năm 1872, tính bền vững cao, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, phá vỡ chuyển hóa canxi ở động vật) và Lindan / HCH (Hexachlorocyclohexane / thuốc trừ sâu 666, gồm 5 đồng phân, đặc biệt là đồng phân gamma-HCH, gây co giật hệ thần kinh, độc cho gan, thận và tủy xương).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng:

  • Luật Bảo vệ môi trường số 29/2005/L-CTN ngày 29/11/2005.
  • Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg ngày 10/8/2006 phê duyệt Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
  • Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước.
  • Chỉ thị số 29/1998/CT-TTg ngày 25/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý sử dụng thuốc BVTV và các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy.
  • Công văn số 2975/BKHCN&MT-MTg ngày 18/11/1998 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
  • Công văn số 3923/VPCP-NN ngày 17/7/2002 của Văn phòng Chính phủ và Công văn số 78/Mtg-Ks ngày 15/8/2002 của Cục Môi trường.
  • Quyết định số 1780/QĐ-UBND ngày 28/7/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về phê duyệt đề cương dự án điều tra ô nhiễm các khu vực tồn lưu HCBVTV trên địa bàn tỉnh.
  • Quyết định số 88/CT-BNN-BVTV của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định danh mục HCBVTV dùng trên cây chè.
  • Quy chuẩn so sánh: QCVN 15:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo điều tra của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên (năm 2009), số liệu thống kê của UBND xã Hóa Trung, báo cáo của dự án UNDP/FAO/Bộ TNMT.
  • Phương pháp lấy mẫu hiện trường: Thực hiện lấy 16 mẫu đất tại 03 khu vực đặc trưng ở các tầng độ sâu 0,5 m và 1,0 m:
    • Khu vực nền kho cũ: 03 vị trí (MĐ-1, MĐ-2, MĐ-3), mỗi vị trí lấy tại 2 tầng sâu 0,5 m và 1 m (tổng cộng 06 mẫu).
    • Khu vực đổ đất nền kho sau san gạt: 03 vị trí (MĐ-4, MĐ-5, MĐ-6), mỗi vị trí lấy tại 2 tầng sâu 0,5 m và 1 m (tổng cộng 06 mẫu).
    • Khu vực đất xung quanh khu ô nhiễm: 02 vị trí (MĐ-7, MĐ-8), mỗi vị trí lấy tại 2 tầng sâu 0,5 m và 1 m (tổng cộng 04 mẫu).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
    • Xác định dư lượng DDT bằng phương pháp sắc ký khí lỏng theo tiêu chuẩn TCVN 6124:1996.
    • Xác định dư lượng Lindan bằng phương pháp sắc ký lỏng theo tiêu chuẩn TCVN 6132:1996.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phát phiếu khảo sát và phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên 50 hộ gia đình sinh sống và canh tác nông nghiệp xung quanh điểm ô nhiễm xóm Na Long nhằm ghi nhận mức độ hiểu biết và các triệu chứng sức khỏe phơi nhiễm.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Thống kê mô tả và lập bảng số liệu trên phần mềm Microsoft Excel 2010 và Word 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vấn đề lịch sử quản lý HCBVTV tại Việt Nam và tính chất tồn lưu nguy hiểm của nhóm hóa chất hữu cơ clo. Phần này xác định rõ mục đích, 03 mục tiêu cụ thể, 04 yêu cầu nghiên cứu cùng ý nghĩa học thuật và ý nghĩa thực tiễn trong công tác khuyến cáo bảo vệ sức khỏe người dân xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa cơ sở khoa học về phân loại thuốc trừ dịch hại, độc tính cấp tính, mãn tính và cơ chế lan truyền chất độc qua chuỗi thức ăn, khí quyển, nguồn nước và đất. Tổng quan lịch sử sử dụng HCBVTV trên thế giới từ thời cổ đại đến việc phát minh và bùng nổ nhóm hóa chất clo hữu cơ, phốt pho hữu cơ, carbamat vào thế kỷ XX.

Tại Việt Nam, quá trình sử dụng trải qua ba giai đoạn: trước năm 1957 (sử dụng rất hạn chế); giai đoạn 1957 - 1990 (thời kỳ bao cấp, lượng sử dụng khoảng 14.000 - 16.000 tấn/năm, chủ yếu là các hợp chất có độ độc cao và tồn lưu dài như DDT, 666); giai đoạn từ 1990 đến nay (kinh tế thị trường, nhập khẩu đa dạng, kim ngạch nhập khẩu đạt 473.692 USD vào năm 2008).

Về hiện trạng tồn lưu, báo cáo từ dự án của Bộ TNMT, UNDP và FAO chỉ ra cả nước có 1.153 điểm ô nhiễm HCBVTV tại 39 tỉnh, thành phố (trong đó 240 điểm ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng; gần 300 điểm đã bị chuyển đổi thành đất ở, trường học, nhà văn hóa). Tổng lượng hóa chất tồn trữ bất hợp pháp hoặc hư hỏng là hơn 216 tấn, 37.000 lít hóa chất và 29 tấn bao bì độc hại.

Tại tỉnh Thái Nguyên, văn bản trích dẫn danh mục năm 2009 của Sở Tài nguyên và Môi trường ghi nhận 18 khu vực kho chứa HCBVTV cũ nằm rải rác tại: Thành phố Thái Nguyên (Phúc Trìu, Thịnh Đức, Phúc Xuân), huyện Phú Bình (Bảo Lý, Úc Kỳ), huyện Phú Lương (thị trấn Đu, Phấn Mễ, Động Đạt, Sơn Cẩm), huyện Đồng Hỷ (Hóa Trung, Sông Cầu), huyện Phổ Yên (Đồng Tiến, Tân Hương, ga Phổ Yên), huyện Định Hóa (Trung Hội, Bảo Cường).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tọa độ không gian tại xã Hóa Trung, thời gian thực hiện (tháng 1 đến tháng 4 năm 2014) và đối tượng nghiên cứu là đất ô nhiễm xung quanh kho Na Long. Chương này mô tả thiết kế vị trí lấy 16 mẫu đất, quy cách bảo quản mẫu, 2 quy trình thử nghiệm sắc ký (TCVN 6124:1996 cho DDT và TCVN 6132:1996 cho Lindan) đối chiếu theo QCVN 15:2008/BTNMT, cùng phương pháp thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn 50 hộ dân.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả tập trung vào 4 nội dung chính:

  • Đặc điểm địa bàn: Xã Hóa Trung có diện tích tự nhiên 1.189,45 ha (đất nông nghiệp chiếm 1.020,14 ha, tương đương 85,76%; đất lâm nghiệp 249,7 ha; đất ở nông thôn 49,88 ha). Dân số 5.031 người với 1.258 hộ, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 70%. Kho hóa chất cũ xóm Na Long có diện tích nền kho cũ khoảng 90 m2, khu đất san gạt nền kho khoảng 50 m2, hiện nằm trong khuôn viên cơ sở đóng gạch nhẹ của hộ ông Phạm Văn Tứ.
  • Thực trạng ô nhiễm môi trường đất:
    • Khu vực nền kho cũ: Hàm lượng hóa chất tồn lưu ở mức báo động. DDT dao động vượt từ 203 lần đến 979 lần quy chuẩn QCVN 15:2008/BTNMT. Giá trị cực đại xuất hiện tại mẫu MĐ-3 ở tầng mặt 0,5 m (vượt 979 lần), mẫu MĐ-1 ở 0,5 m vượt 860 lần, mẫu MĐ-2 ở độ sâu 1,0 m có hàm lượng thấp nhất nhưng vẫn vượt 203 lần quy chuẩn. Hàm lượng Lindan tại đây cũng vượt từ 61 lần (mẫu MĐ-2 tại 1 m) đến 149 lần (mẫu MĐ-3 tại 0,5 m).
    • Khu vực đổ đất nền kho sau san gạt: Ô nhiễm phân tán nghiêm trọng do quá trình di chuyển đất nhiễm độc. Mẫu MĐ-4 ở độ sâu 1,0 m ghi nhận hàm lượng DDT vượt 421,8 lần quy chuẩn; tại độ sâu 0,5 m mẫu MĐ-4 có Lindan vượt 121 lần quy chuẩn. Các vị trí MĐ-5 và MĐ-6 ở tầng 0,5 m có DDT vượt trên 213 lần và Lindan vượt trên 60 lần quy chuẩn.
    • Khu vực xung quanh khu ô nhiễm: Các mẫu MĐ-7 và MĐ-8 ở tầng sâu 0,5 m và 1,0 m đều ghi nhận hàm lượng DDT và Lindan nằm trong giới hạn cho phép hoặc không phát hiện (KPH), cho thấy mức độ lan truyền theo phương ngang ở tầng đất này chưa phát tán rộng ra môi trường đất xung quanh.
  • Tác động đến sức khỏe cộng đồng qua điều tra 50 người dân:
    • Về hiểu biết: 100% người dân nhận thức được tác hại của HCBVTV, 90% hiểu về tác dụng, nhưng chỉ 56% có ý thức sử dụng bảo hộ lao động (chủ yếu là khẩu trang thông thường) và chỉ 12% (06 người) từng được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật tiếp xúc an toàn.
    • Triệu chứng thần kinh khi tiếp xúc lâu dài: Tỷ lệ đau đầu chiếm 72% (36 người), hoa mắt chóng mặt chiếm 70% (35 người), mất ngủ chiếm 20% (10 người), run tay chiếm 10% (5 người) và hay quên chiếm 4% (2 người).
    • Bệnh lý phơi nhiễm nghiêm trọng: Bệnh lý gan chiếm tỷ lệ 28% (14 người), ung thư chiếm 12% (06 người), thiểu năng trí tuệ 10% (05 người), rối loạn thần kinh 6% (03 người), sảy thai 4% (02 người). Tác giả dẫn chứng hai trường hợp tử vong do ung thư tại địa phương gồm: ông Nguyễn Văn Chức (sinh năm 1959, người từng trông coi và bán hóa chất tại kho) tử vong vì bệnh ung thư, và bà Nguyễn Thị Thường (sinh năm 1961, cư trú cạnh nền kho cũ, canh tác vườn vải) tử vong do ung thư gan.
  • Phân tích và đề xuất giải pháp kỹ thuật: Đánh giá ưu nhược điểm của 4 phương án công nghệ xử lý:
    1. Công nghệ tổng hợp (hóa học, sinh học, thực vật học và bể cô lập chuyên dụng): Đạt hiệu quả cao tại Ninh Khánh (Ninh Bình) và xã Trung Môn (Tuyên Quang - xử lý 100 m3 đất nhiễm DDT và 666). Sử dụng bể chứa kháng ăn mòn xây trên nền đất sét, bổ sung rơm rạ, mùn mục để giữ hóa chất và cấy vi sinh vật phân hủy; mặt trên trồng cây sinh khối nhanh như keo lá tràm và cỏ vetiver để tự làm sạch.
    2. Thiêu đốt trong lò nung clinke xi măng: Thử nghiệm tại Nhà máy xi măng Holcim Hà Tiên, kiểm soát tốt khí thải dioxin/furan nhưng vướng mắc về chi phí đóng gói, vận chuyển đường dài.
    3. Công nghệ cách ly bê tông hóa cục bộ: Đã áp dụng tại nông trường Vực Rồng, Nghệ An (xây tường gạch sâu 2 m quanh nền kho, đổ xỉ than và tráng bê tông bề mặt). Chi phí thấp nhưng tiềm ẩn nguy cơ thẩm thấu chất độc theo phương ngang vào mạch nước ngầm.
    4. Công nghệ lò đốt hai buồng có xúc tác: Do Viện Công nghệ Môi trường và Bộ Tư lệnh Hóa học triển khai tại trường bắn Sơn Tây và Nghệ An, tiêu hủy được nhiều loại hóa chất nhưng thông số dioxin/furan trong khói thải chưa được kiểm chứng đầy đủ trong điều kiện tối ưu.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận đúc kết các kết luận về mức độ ô nhiễm vượt ngưỡng nghiêm trọng tại điểm kho Na Long và kiến nghị các giải pháp quản lý, cảnh báo, lập kế hoạch xử lý dứt điểm điểm nóng hóa chất bảo vệ thực vật.

Kết quả và đóng góp

Số liệu kết quả thực nghiệm và khảo sát

Số liệu phân tích thổ nhưỡng tại kho hóa chất xã Hóa Trung được tổng hợp qua các bảng sau:

Bảng 1: Kết quả phân tích mẫu đất tại nền kho cũ và khu vực đổ đất san gạt so với QCVN 15:2008/BTNMT

Vị trí lấy mẫu Tầng độ sâu (m) Mức vượt quy chuẩn của DDT (lần) Mức vượt quy chuẩn của Lindan (lần) Ghi chú hiện trạng
Nền kho cũ (Vị trí 1 - MĐ-1) 0,5 860 127 Nền kho cũ cao hơn xung quanh 1m
Nền kho cũ (Vị trí 2 - MĐ-2) 1,0 203 (thấp nhất nền kho) 61 (thấp nhất nền kho) Nồng độ độc chất giảm theo độ sâu
Nền kho cũ (Vị trí 3 - MĐ-3) 0,5 979 (cao nhất nền kho) 149 (cao nhất nền kho) Vị trí chôn lấp phuy hóa chất cũ
Đất san gạt (Vị trí 4 - MĐ-4) 0,5 > 100 121 (cao nhất khu san gạt) Đất múc từ nền kho san lấp ra xung quanh
Đất san gạt (Vị trí 4 - MĐ-4) 1,0 421,8 (cao nhất khu san gạt) 31 (thấp nhất khu san gạt) Tồn dư chôn sâu sau khi san phẳng
Đất san gạt (Vị trí 5 & 6) 0,5 > 213 > 60 Mặt bằng hiện làm xưởng gạch nhẹ
Đất xung quanh (MĐ-7, MĐ-8) 0,5 và 1,0 Đạt quy chuẩn hoặc KPH Đạt quy chuẩn hoặc KPH KPH: Không phát hiện

Bảng 2: Tổng hợp kết quả điều tra xã hội học tại xóm Na Long (Quy mô: 50 người/hộ)

Nội dung khảo sát Tiêu chí cụ thể Số người ghi nhận Tỷ lệ (%)
Hiểu biết của người dân Hiểu về tác dụng của HCBVTV 45 90
Hiểu về tác hại của HCBVTV 50 100
Có kiến thức bảo vệ cơ thể khi dùng 28 56
Được hướng dẫn kỹ thuật tiếp xúc 6 12
Triệu chứng thường gặp Đau đầu 36 72
Hoa mắt, chóng mặt 35 70
Mất ngủ 10 20
Run tay 5 10
Hay quên 2 4
Bệnh lý ghi nhận Bệnh về gan 14 28
Ung thư 6 12
Thiểu năng trí tuệ 5 10
Bệnh thần kinh 3 6
Sảy thai 2 4

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Về giải pháp kỹ thuật: Ưu tiên lựa chọn công nghệ "tổng hợp" tại chỗ: xây dựng bể bê tông cách ly chuyên dụng đặt trên nền địa tầng đất sét ổn định, bổ sung phụ gia mùn (rơm rạ, lá mục) và chế phẩm vi sinh để phân hủy yếm khí kết hợp cố định độc chất; hoàn nguyên bề mặt bằng cách trồng thảm thực vật có tốc độ sinh khối nhanh gồm cỏ vetiver và keo lá tràm nhằm xử lý triệt để lượng vết hóa chất còn sót lại.
  • Về giải pháp quản lý:
    • Chính quyền địa phương cần khẩn trương cắm biển báo nguy hiểm, khoanh vùng cách ly khu vực nền kho cũ và khu vực đổ đất san nền tại xóm Na Long;
    • Đình chỉ hoặc di dời các hoạt động sản xuất gạch nhẹ và canh tác rau màu, cây ăn quả trên diện tích đất ô nhiễm;
    • Tổ chức khám sức khỏe định kỳ và lập hồ sơ theo dõi bệnh nghề nghiệp/phơi nhiễm cho cư dân sinh sống lân cận;
    • Tăng cường công tác tập huấn, tuyên truyền nâng cao ý thức trang bị bảo hộ lao động cá nhân đầy đủ khi tiếp xúc với hóa chất nông nghiệp.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm đầu tiên đo đạc nồng độ DDT và Lindan theo từng tầng độ sâu tại kho hóa chất Na Long (xã Hóa Trung), lượng hóa rõ nét mức độ vượt chuẩn tại điểm chôn lấp và khu san gạt. Đồng thời, nghiên cứu xác lập mối liên hệ định tính và thống kê tỷ lệ bệnh tật phơi nhiễm tại chỗ, làm cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý môi trường tỉnh Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ đưa điểm ô nhiễm này vào kế hoạch xử lý triệt để theo Quyết định 1946/QĐ-TTg.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu:
    • Phạm vi lấy mẫu thực nghiệm mới chỉ tập trung phân tích 02 nhóm hoạt chất clo hữu cơ chính là DDT và Lindan tại 16 mẫu đất, chưa tiến hành phân tích mở rộng các hoạt chất lân hữu cơ hoặc carbamat khác;
    • Chưa thực hiện lấy mẫu và phân tích hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong môi trường nước ngầm và nông sản (rau màu, chè) canh tác tại các khu vườn liền kề;
    • Số lượng mẫu điều tra dịch tễ học dừng ở quy mô 50 người dân tại xóm Na Long, các kết luận về bệnh gan và ung thư chủ yếu dựa trên phỏng vấn xã hội học và ghi nhận tiền sử y tế gia đình chứ chưa có điều kiện đối chứng xét nghiệm lâm sàng, cận lâm sàng chuyên sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát lan truyền chất ô nhiễm theo phương ngang và phương thẳng đứng trong tầng chứa nước ngầm tại khu vực lân cận xưởng gạch nhẹ;
    • Nghiên cứu dư lượng HCBVTV tích tụ sinh học trong các sản phẩm chè và cây ăn quả tại địa bàn;
    • Thử nghiệm quy mô pilot công nghệ sinh học sử dụng vi sinh vật bản địa kết hợp thảm thực vật cỏ vetiver để xử lý đất nhiễm DDT và Lindan tại Thái Nguyên.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho:

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông hóa Thổ nhưỡng, Độc chất học môi trường và cán bộ phụ trách quản lý môi trường tại các phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, thị xã.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Quy trình thiết kế mạng lưới quan trắc lấy mẫu đất tầng sâu tại các điểm nóng chôn lấp hóa chất độc hại lịch sử;
    • Phương pháp phân tích đối sánh dư lượng POPs theo các tiêu chuẩn TCVN 6124:1996, TCVN 6132:1996 và QCVN 15:2008/BTNMT;
    • Bảng danh mục thống kê hiện trạng 18 kho lưu trữ hóa chất BVTV cũ trên địa bàn toàn tỉnh Thái Nguyên (năm 2009);
    • Bộ câu hỏi và phương pháp điều tra xã hội học sức khỏe cộng đồng liên quan đến điểm ô nhiễm môi trường đất.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm ô nhiễm kho hóa chất bảo vệ thực vật tại xã Hóa Trung hoạt động trong khoảng thời gian nào và hiện trạng mặt bằng ra sao?
Kho hóa chất xóm Na Long, xã Hóa Trung được đưa vào vận hành từ những năm 1980 và dừng hoạt động vào năm 1992. Khu đất ô nhiễm hiện thuộc quyền sử dụng của hộ ông Phạm Văn Tứ, bao gồm nền kho cũ (khoảng 90 m2, cao hơn xung quanh 1 m) và khu vực đổ đất san nền kho cũ (khoảng 50 m2). Sau khi dỡ bỏ kho, các thùng phuy chứa hóa chất bị chôn cách nền cũ khoảng 3 m và mặt bằng hiện đã bị san lấp để làm nhà xưởng đóng gạch nhẹ.

2. Mức độ ô nhiễm hoạt chất DDT và Lindan trong đất tại nền kho cũ vượt quy chuẩn bao nhiêu lần?
Theo kết quả phân tích đối chiếu với QCVN 15:2008/BTNMT, toàn bộ mẫu đất tại nền kho cũ đều vượt chuẩn nhiều lần:

  • DDT: Vượt từ 203 lần (tại mẫu MĐ-2 độ sâu 1,0 m) đến 979 lần (tại mẫu MĐ-3 độ sâu 0,5 m). Mẫu MĐ-1 ở 0,5 m cũng vượt tới 860 lần.
  • Lindan: Vượt từ 61 lần (tại mẫu MĐ-2 độ sâu 1,0 m) đến 149 lần (tại mẫu MĐ-3 độ sâu 0,5 m). Nồng độ có xu hướng giảm dần theo chiều sâu từ 0,5 m xuống 1,0 m.

3. Đất ở khu vực san gạt nền kho cũ có bị nhiễm độc không và mức độ ra sao?
Khu vực chứa đất san gạt nền kho (sau khi phá dỡ kho) bị ô nhiễm rất nặng: DDT vượt từ trên 100 lần đến 421,8 lần quy chuẩn (đỉnh điểm tại mẫu MĐ-4 ở độ sâu 1,0 m); Lindan vượt từ 31 lần đến 121 lần quy chuẩn (đỉnh điểm tại mẫu MĐ-4 ở độ sâu 0,5 m). Các vị trí MĐ-5 và MĐ-6 ở độ sâu 0,5 m đều có DDT vượt trên 213 lần và Lindan vượt trên 60 lần quy chuẩn.

4. Kết quả điều tra xã hội học ghi nhận những biểu hiện bệnh lý nổi bật nào ở người dân sống lân cận?
Khảo sát 50 người dân tại xóm Na Long ghi nhận tỷ lệ cao các triệu chứng tổn thương thần kinh do phơi nhiễm lâu dài: đau đầu (72%), hoa mắt chóng mặt (70%), mất ngủ (20%). Về các bệnh lý mãn tính nghiêm trọng: bệnh gan chiếm 28%, thiểu năng trí tuệ 10%, và bệnh ung thư chiếm 12% (điển hình ghi nhận 02 ca tử vong do ung thư gồm ông Nguyễn Văn Chức - nguyên người trông coi, bán thuốc và bà Nguyễn Thị Thường - cư dân canh tác vải sát nền kho).

5. Tác giả đề xuất giải pháp kỹ thuật công nghệ nào được đánh giá là khả thi nhất cho địa phương?
Tác giả đề xuất công nghệ "tổng hợp" gồm: xây bể bê tông cách ly chuyên dụng kháng hóa chất trên nền địa tầng đất sét ổn định, bổ sung phụ gia mùn (rơm rạ, lá mục) và chế phẩm vi sinh để phân hủy yếm khí tại chỗ; kết hợp trồng thảm thực vật có sinh khối nhanh (cỏ vetiver và cây keo lá tràm) trên bề mặt để phục hồi sinh thái. Đây là giải pháp có chi phí hợp lý, an toàn, không làm phát tán hóa chất trong quá trình vận chuyển và đã áp dụng thành công tại Ninh Bình và Tuyên Quang.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thế Đàn đã phản ánh toàn diện thực trạng ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật nghiêm trọng tại kho trung chuyển cũ xóm Na Long, xã Hóa Trung, với dư lượng DDT và Lindan trong đất vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hàng trăm lần. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ nguy cơ đe dọa trực tiếp tới sức khỏe người dân thông qua các dữ liệu dịch tễ học về bệnh gan và ung thư tại khu vực khảo sát. Đây là nguồn tư liệu khoa học xác thực, cấp thiết giúp các cơ quan quản lý môi trường tỉnh Thái Nguyên hoạch định biện pháp cô lập, xử lý triệt để điểm ô nhiễm tồn lưu theo định hướng bảo vệ môi trường và an sinh xã hội bền vững.