CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÁC NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế.
Tín dụng xuất phát từ chữ Credit - Creditum được hiểu đơn giản là sự tin tưởng, tín nhiệm. Theo giáo trình Luật Ngân hàng, Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội do Võ Đình Toàn chủ biên: "Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại một lượng giá trị lớn hơn"[20]. Khái niệm tín dụng được thể hiện ở 3 mặt như sau: Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác; Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời; Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức. Một quan hệ được gọi là tín dụng phải đầy đủ cả 3 mặt nêu trên.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo giáo trình Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng của TS. Nguyễn Minh Kiều: "Tín dụng ngân hàng (TDNH) là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định"[11]. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ 6 dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng.
TDNH cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi. Khái niệm cho vay Theo quy định trong Luật các tổ chức tín dụng "Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi”[15]. Khái niệm tín dụng đầu tư và cho vay tín dụng đầu tư Theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về Tín dụng đầu tư và Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước: "Tín dụng đầu tư Nhà nước của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức tín dụng cho các dự án đầu tư phát triển thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích"[5]. Cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước là một hình thức cấp tín dụng, theo đó VDB giao hoặc cam kết giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để đầu tư dự án thuộc Danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi[5].
Cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước về bản chất cũng như các loại hình tín dụng đầu tư khác đều dựa trên quan hệ vay trả (bao gồm hoàn trả cả vốn gốc và lãi). Khác với tín dụng thương mại, cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước là kênh hỗ trợ vốn cho các pháp nhân (chủ đầu tư) để khuyến khích họ đầu tư vào các lĩnh vực, các vùng miền mà Chính phủ mong muốn. Trên thực tế, cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước ra đời đã đáp ứng được mục đích của Nhà nước chuyển từ bao cấp vốn sang hỗ trợ dưới dạng cho vay có hoàn trả. Ưu điểm của hoạt động này là các hoạt động đầu tư được sử dụng nguồn vốn Nhà nước để tạo ra nguồn thu có khả năng hoàn trả khoản vốn đã sử 7 dụng.
Nhờ đó cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước không chỉ góp phần tập trung được các nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn của Nhà nước. Thông qua cho vay vốn tín dụng đầu tư, Nhà nước có thể mở rộng và chủ động trong việc giải quyết các mục tiêu dài hạn. Đặc điểm của cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước Là một loại hình tín dụng trong hệ thống tín dụng của nền kinh tế quốc dân, cho vay tín dụng đầu tư của VDB cũng mang những đặc điểm vốn có của tín dụng nói chung (quan hệ ba bên trong đó tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gian giữa người có tiền tạm thời nhàn rỗi và người có nhu cầu sử dụng tiền; quan hệ tài chính dựa trên sự tín nhiệm; quan hệ nhượng quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định; lãi suất là giá của quyền sử dụng tiền theo thời gian…). Tuy nhiên, do được tổ chức thực hiện bởi cơ quan được Nhà nước ủy quyền nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của Nhà nước, đồng thời hướng đến đối tượng phục vụ là hoạt động đầu tư phát triển, nên cho vay tín dụng đầu tư của VDB mang những đặc điểm riêng, phản ánh sự đan xen giữa đặc điểm của tín dụng và đặc điểm của sử dụng NSNN.
Những đặc điểm này là: 1. Nhà nước can thiệp vào các quyết định tín dụng Nếu trong tín dụng thương mại, tổ chức tín dụng có toàn quyền quyết định huy động vốn ở đâu, cho ai vay, lãi suất như thế nào, thì trong cho vay tín dụng đầu tư của VDB, Nhà nước can thiệp sâu vào các quyết định tín dụng trên nhiều phương diện như cung cấp nguồn vốn với lãi suất ưu đãi, bảo lãnh hoặc tổ chức phát hành trái phiếu chính phủ huy động vốn để cho vay đầu tư, quy định ai được vay, với lãi suất như thế nào… Bên cạnh đó, VDB thực hiện tín dụng theo chính sách của Nhà nước, nhằm hướng tới mục tiêu mà Nhà nước theo đuổi. Do đó, VDB có rất ít quyền tự chủ. Tính hiệu quả kinh tế đan xen hiệu quả chính trị, xã hội Khác với mục đích của các loại hình tín dụng khác trong nền kinh tế thị trường là tìm kiếm lợi nhuận, mục đích cho vay tín dụng đầu tư của VDB là hỗ trợ 8 các dự án đầu tư thuộc đối tượng mà Nhà nước muốn khuyến khích phát triển.
Do đó, hoạt động của cho vay đầu tư không vì mục đích lợi nhuận, không đặt mục đích lợi nhuận do khoản cho vay đó đem lại lên hàng đầu, mà nhấn mạnh hiểu quả kinh tế - chính trị - xã hội. Chính vì yêu cầu về hiệu quả tổng hợp như vậy nên lãi suất cho vay của VDB thường thấp hơn lãi suất thị trường và được NSNN cấp bù khoản thâm hụt do phải huy động vốn với lãi suất cao hơn. Tính kế hoạch - chỉ định Hoạt động cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước tại VDB mang tính kế hoạch - chỉ định rõ ràng. Kế hoạch cho vay tín dụng đầu tư của VDB hàng năm là một bộ phận của kế hoạch đầu tư phát triển của Nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu chiến lược về phát triển KTXH trong từng thời kỳ và được Nhà nước thông báo hàng năm.
Việc cho vay tín dụng đầu tư đối với các dự án được thực hiện theo kế hoạch hàng năm do Nhà nước giao. Do thực hiện chính sách phát triển kinh tế theo mục tiêu của Chính phủ nên hoạt động cho vay tín dụng đầu tư được Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ về nguồn vốn thông qua việc cấp vốn trực tiếp hoặc hỗ trợ trong huy động vốn. Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng và khác biệt so với tín dụng của các NHTM. Ưu đãi về mức vốn, thời hạn, lãi suất và tài sản bảo đảm tiền vay Cho vay tín dụng đầu tư của VDB hàm chứa sự ưu đãi của Nhà nước đối với các đối tượng thụ hưởng.
Sự ưu đãi của Nhà nước có thể được thể hiện trên phương diện khối lượng, thời hạn và lãi suất cho vay. Cụ thể: + Về khối lượng vay vốn: Các dự án đầu tư thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư tại VDB có thể được Nhà nước cho vay một số lượng vốn rất lớn theo ý chí của Nhà nước, không bị ràng buộc bởi các giới hạn về tỷ lệ an toàn như trong tín dụng của NHTM. Thông thường mức vốn vay tín dụng đầu tư tối đa bằng 70% tổng mức vốn đầu tư dự án; đồng thời phải đảm bảo mức vốn cho vay tối đa với mỗi chủ đầu tư không quá 15% vốn điều lệ thực có của VDB. + Về thời hạn vay vốn: Các dự án vay vốn tín dụng đầu tư tại VDB thường được hưởng thời gian vay vốn rất dài, có thể lên đến 15 năm; thời gian ân hạn đối với 9 các dự án cũng thường dài hơn so với tín dụng tại NHTM.
Đặc điểm này xuất phát từ đặc trưng của các dự án đầu tư là có thời gian thực hiện và thu hồi vốn kéo dài và cũng chính do đặc điểm này nên hoạt động cho vay tại VDB có mức độ rủi ro cao. + Về lãi suất vay vốn: Nhằm ưu đãi cho các chủ đầu tư, Nhà nước thường quy định lãi suất tín dụng đầu tư luôn thấp hơn lãi suất cho vay của các NHTM. Đặc điểm này xuất phát từ mục đích phi lợi nhuận của Tín dụng đầu tư của Nhà nước. Hơn nữa, do Nhà nước có thể huy động vốn của các chủ thể khác trong xã hội với lãi suất thấp nên có thể cho vay với lãi suất ưu đãi.
Tuy nhiên, xu thế các nước trên thế giới hiện nay không lấy lãi suất làm công cụ ưu đãi, ngày càng thu hẹp khoảng cách giữa lãi suất tín dụng đầu tư và lãi suất tín dụng thương mại nhằm giảm cấp bù của Nhà nước cũng như giảm gánh nặng ngân sách. Thay thế ưu đãi lãi suất bằng ưu đãi về điều kiện vay vốn như thời hạn tín dụng, bảo đảm tiền vay. + Bảo đảm tiền vay: Nhằm bảo đảm an toàn vốn, chủ đầu tư sử dụng vốn TDĐT phải thực hiện bảo đảm tiền vay.