Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở khoa học về cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu đề tài. Chương 4: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ĐBSCL trong thời gian qua.
Chương 5: Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ĐBSCL đến năm 2025. Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan tới luận án về mặt lý luận Lý luận về cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH có rất nhiều vấn đề. Tuy nhiên, mục này chỉ tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu về một số vấn đề cơ bản, cốt lõi như nội hàm của khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, những tiêu chí đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, những yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH.
Cụ thể như sau: 1.1 Các công trình nghiên cứu về nội hàm của khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Trong tác phẩm “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới”, tác giả Lê Du Phong và cộng sự (1999) cho rằng về mặt bản chất của cơ cấu kinh tế là: (i) tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành nền kinh tế; (ii) số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành, của các yếu tố cấu thành nền kinh tế trong tổng thể; (iii) các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành nền kinh tế hướng vào các mục tiêu đã được xác định. Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế về thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu ở cả 3 mặt trên hướng vào các mục tiêu đã được xác định trong từng thời kỳ phát triển. Trong tác phẩm “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tác giả Trương Thị Minh Sâm và cộng sự (2000) cho rằng cơ cấu kinh tế là tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có sự tác động qua lại lẫn nhau trong một không gian và thời gian nhất định. Nó được thể hiện ở mặt số lượng và chất lượng phù hợp với mục tiêu đã được xác định của nền kinh tế.
Trong đó, mặt số lượng thể hiện quan hệ tỷ lệ hình thành của cơ cấu; còn mặt chất lượng quy định vị trí, vai trò của các yếu tố. Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự chuyển dịch cả về số lượng lẫn chất lượng của nó. Trong tác phẩm “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI”, tác giả Nguyễn Trần Quế và cộng sự (2004) cho rằng thực chất của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là do sự tăng trưởng không đồng đều giữa các ngành. Ngành nào có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung thì sẽ 7 tăng tỷ trọng.
Ngành nào có tốc độ tăng trưởng chậm hơn tốc độ tăng trưởng chung thì sẽ giảm tỷ trọng. Còn nếu tất cả các ngành có cùng một tốc độ tăng trưởng thì tỷ trọng của các ngành sẽ không đổi, nghĩa là không có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Như vậy, theo quan điểm này thì chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chỉ đơn thuần là sự thay đổi về tỷ trọng giữa các ngành kinh tế trong tổng thể theo thời gian. Trong tác phẩm “Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả Nguyễn Thị Bích Hường (2005) cho rằng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế bao gồm: (i) sự thay đổi về số lượng và loại ngành trong nền kinh tế; (ii) sự thay đổi về tỷ trọng giữa các ngành so với thời kỳ trước đó; (iii) sự thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành, đây là sự thay đổi về mặt chất lượng của cơ cấu ngành.
Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế là sự thay đổi có mục đích, có định hướng nhằm đạt được cơ cấu mới hợp lý và hiệu quả hơn. Đây là quan niệm tương đối đầy đủ về nội dung của khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Còn trong tác phẩm “Tái cấu trúc kinh tế Việt Nam nhìn từ cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế”, tác giả Nguyễn Ngọc Toàn và cộng sự (2013) thì cho rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi tỷ trọng giữa các bộ phận, cũng như vị trí, vai trò và mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận đó. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những nội dung của khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, bao gồm: Một là, sự thay đổi về số lượng và loại ngành trong nền kinh tế.
Hai là, sự thay đổi về tỷ trọng giữa các ngành kinh tế trong tổng thể. Ba là, sự thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế này nhằm đạt được một cơ cấu mới hợp lý và có hiệu quả hơn.2 Các công trình nghiên cứu về những tiêu chí đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế - Trong bài báo khoa học “Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cách mạng khoa học - công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế thế giới”, tác giả Trần Văn Nhưng (2001) cho rằng những tiêu chí đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên vùng lãnh thổ là cơ cấu theo tổng sản phẩm cuối cùng (GDP) và 8 cơ cấu ngành theo giá trị sản lượng. Những tiêu chí này được tính theo công thức sau: + Cơ cấu theo tổng sản phẩm cuối cùng (GDP): = x 100% Trong đó: : Tỷ trọng GDP của ngành i trong toàn vùng (%).
: Giá trị cuối cùng của ngành i. : Giá trị tổng sản phẩm cuối cùng của toàn vùng. Tiêu chí này cho biết rằng giá trị cuối cùng của ngành i chiếm bao nhiêu phần trăm trong giá trị tổng sản phẩm cuối cùng của toàn vùng. + Cơ cấu ngành theo giá trị sản lượng: = x 100% Trong đó: : Tỷ trọng giá trị sản lượng của ngành i trong toàn vùng (%).
:: Giá trị sản lượng của ngành i. : Tổng giá trị sản lượng của toàn vùng. Tiêu chí này cho biết rằng giá trị sản lượng của ngành i chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng giá trị sản lượng của toàn vùng. - Trong tác phẩm “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam”, tác giả Bùi Tất Thắng và cộng sự (2006) cho rằng những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế bao gồm: + Cơ cấu GDP phân theo nhóm ngành kinh tế và cơ cấu trong nội bộ các nhóm ngành này.
+ Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế gồm có: cơ cấu tổng lao động xã hội phân theo nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp, cơ cấu tổng lao động xã hội phân theo trình độ CMKT. + Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu phân theo nhóm hàng nông - lâm - thủy sản - công nghiệp khai khoáng và nhóm hàng công nghiệp chế biến. Hơn nữa, tác giả cho rằng cơ cấu sản phẩm xuất khẩu cũng là một tiêu chí tốt để đánh giá kết quả của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH. 9 + Ngoài ra, còn có các tiêu chí khác, có ý nghĩa bổ sung như: cơ cấu GDP phân theo nhóm ngành nông nghiệp và nhóm ngành phi nông nghiệp, cơ cấu GDP phân theo nhóm ngành sản xuất vật chất và nhóm ngành dịch vụ, cơ cấu hàng nhập khẩu… - Trong luận án tiến sĩ “Cơ sở khoa học và giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSCL”, tác giả Nguyễn Trọng Uyên (2007) cho rằng cơ cấu trong nội bộ nhóm ngành nông - lâm - thủy sản gồm có: + Cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản phân theo ngành kinh tế.
+ Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế. Trong ngành trồng trọt thì có cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng. Trong ngành chăn nuôi có cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi phân theo nhóm vật nuôi. + Cơ cấu giá trị sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành hoạt động.
+ Cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản phân theo ngành hoạt động. - Trong giáo trình “Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn”, tác giả Đinh Phi Hổ và cộng sự (2011) cho rằng những tiêu chí phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm: + Cơ cấu GDP phân theo nhóm ngành kinh tế: cơ cấu này phản ánh vai trò, tầm quan trọng của mỗi nhóm ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. + Cơ cấu tổng lao động xã hội phân theo nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp: cơ cấu này phản ánh tầm quan trọng của mỗi nhóm ngành kinh tế trong việc sử dụng nguồn lao động xã hội. + Cơ cấu dân số phân theo thành thị và nông thôn.
- Trong giáo trình “Ứng dụng một số lý thuyết trong nghiên cứu kinh tế”, tác giả Trần Thọ Đạt và Ngô Quang Cảnh (2015) cho rằng tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể được đo lường bằng hệ số cosφ, hệ số này được tính theo công thức sau: φ √ Trong đó: : tỷ trọng ngành i ở năm đầu. 10 : tỷ trọng ngành i ở năm cuối. i: ngành thứ 1, 2, 3… φ φ ): góc giữa hai véc tơ cơ cấu kinh tế. Nếu φ = thì không có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Nếu φ càng lớn thì sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế càng nhanh. Nếu φ = thì chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là nhanh nhất. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra được một số tiêu chí đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế như: (i) cơ cấu GDP phân theo nhóm ngành kinh tế và các loại cơ cấu giá trị sản xuất trong nhóm ngành nông - lâm - thủy sản; (ii) cơ cấu tổng lao động xã hội phân theo trình độ CMKT; (iii) cơ cấu sản phẩm xuất khẩu; (iv) tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đo lường bằng hệ số cosφ.