phần mở đầu và kết luận, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn còn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng chínhnhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cho vay học sinh sinh viên Chƣơng 2: Thực trạng cho vay HSSV tại Ngân hàng CSXH Việt Nam - Chi nhánh TP Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng cho vay HSSV tại Ngân hàng CSXH Việt Nam - chi nhánh TP Hà Nội 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY HỌC SINH SINH VIÊN 1. Những vấn đề cơ bản về cho vay học sinh sinh viên 1. Khái niệm về cho vay học sinh sinh viên Học tập là một yêu cầu quan trọng đối với mọi ngƣời dân ở mỗi quốc gia nhằm cập nhật kiến thức, xây dựng kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp và đạo đức để có thể theo đuổi một công việc để nuôi sống bản thân, gia đình đồng thời đóng góp phần vào sự phát triển chung của cộng đồng, đất nƣớc và thế giới. Đối tƣợng đi học thƣờng là những ngƣời trẻ tuổi chƣa có công ăn việc làm, sống phụ thuộc vào bố mẹ và ngƣời thân.
Bên cạnh đó, chi phí cho việc học tập là không nhỏ, vì vậy, đối với một số HSSV và cả gia đình họ để có đƣợc nguồn lực tài chính để đi học là rất khó khăn, thậm chí là không thể. Trong khi đó, rất nhiều ngƣời trong số họ có năng lực học tập, nếu đƣợc học hành sau này họ sẽ đóng góp cho xã hội và bù đắp đƣợc các nguồn chi phí học tập trƣớc đây. Trong điều kiện hiện nay, khi còn thiếu lao động có tay nghề cao thì việc để số HSSV này phải dừng việc học tập của mình là một sự lãng phí nguồn nhân lực. Do đó, vấn đề cấp bách là cần một biện pháp để hỗ trợ cho họ tiếp tục con đƣờng học tập của mình, một trong những biện pháp đó chính là cấp tín dụng cho học sinh sinh viên.
Trong một số trƣờng hợp, việc cho vay này còn có ý nghĩa xã hội, dân tộc, tôn giáo từ đó đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội haì hòa cho đất nƣớc. Tuy nhiên, việc cho những đối tƣợng này vay vốn cũng rất rủi ro vì xác xuất ngƣời vay không trả đƣợc nợ lớn và nếu trả đƣợc nợ thì phải rất lâu sau khi ngƣời vay ra trƣờng, có việc làm và có cuộc sống tƣơng đối ổn định thì lúc đó việc trả nợ mới có thể thực hiện tốt đƣợc. Xuất phát từ nguyên nhân trên hầu hết các quốc gia đều có những chính sách cấp tín dụng hay cho ngƣời có nhu cầu học tập vay vốn để khuyến khích học tập. Cấp tín dụng cho học sinh, sinh viên để hỗ trợ cho học sinh sinh viên học tập vì vậy đây là một chủ trƣơng lớn mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đều thực hiện nhằm hỗ trợ những ngƣời có năng lực học tập để họ có thể theo đuổi ƣớc mơ học tập của mình, qua đó, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lƣợng 7 nguồn nhân lực cũng nhƣ thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, tùy vào hoàn cảnh, điều kiện của mỗi quốc gia mà mỗi quốc gia có chính sách, chƣơng trình và cách tổ chức cho vay cụ thể đối với học sinh sinh viên. Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, lịch sử của vấn đề cấp tín dụng cho HSSV vay bắt nguồn từ cuối những năm 1940, khi một thanh niên trẻ ngƣời Colombia tên là Gabriel Betancourt có ƣớc mơ vào đại học nhƣng gia đình anh rất nghèo. Anh ta đã phải thuyết phục ông chủ của công ty nơi anh làm việc cho anh vay tiền để trang trải chi phí học tập ở nƣớc ngoài. Sau khi tốt nghiệp, anh nhận thấy mình đã đạt đƣợc nhiều thứ từ khoản vay học tập này nên đã quyết định tìm cách để chế hóa khoản vay nhƣ vậy.
Sau đó anh đã thành công cho việc thuyết phục chính phủ Colombia vào năm 1950, Chính phủ Colombia thành lập Viện cho sinh viên vay tiền Colombia (Colombian Student Loan Institute, ICETEX), đây là việc không chỉ có đầu tiên ở Colombia mà còn đầu tiên trên thế giới. Đến nay trên thế giới có hơn 70 quốc gia đang có cơ chế ngày càng đề cao việc cho sinh viên vay tiền học tập. Theo trang web Bách khoa toàn thƣ mở (phiên bản tiếng Anh), cho vay HSSV là việc giúp sinh viên trả học phí, tiền sách vở và chi phí sinh hoạt. Cho vay sinh viên có nhiều hình thức với mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất thông thƣờng và việc trả nợ có thể gia hạn khi ngƣời vay còn đi học.
Đối với những quốc gia khác nhau thì luật pháp cũng khác nhau về việc cho vay và tình trạng không trả đƣợc nợ. Định nghĩa này cho thấy đối tƣợng vay là bất kỳ sinh viên nào có nhu cầu. Tại Mỹ, Chính phủ Mỹ cung cấp 2 loại hình cho vay đối với sinh viên: Vay liên bang (federal loans) do chính phủ Liên bang tài trợ và vay cá nhân sinh viên (private student loans). Vay liên bang có thể đƣợc trợ cấp và không trợ cấp.
Lãi suất sẽ không bị cộng dồn hay tăng đối với những khoản vay đƣợc trợ cấp khi sinh viên đang học. Những khoản vay này thƣờng đƣợc thực hiện trong một tổng thể hỗ trợ tài chính của Chính phủ Liên bang Mỹ, còn có thể bao gồm học bổng, cơ hội làm việc khi đi học… Định nghĩa này cũng không phân biệt sinh viên khó khăn mới đƣợc đi vay. 8 Ở Việt Nam, theo Quyết định số 157/2007/QĐ – TTg ngày 27/09/2007 của Thủ tƣớng chính phủ về tín dụng đối với HSSV thì: “chính sách tín dụng đối với HSSV là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nƣớc huy động đƣợc để cho các hộ có con em là HSSV có hoàn cảnh khó khăn về tài chính đang theo học tại các trƣờng đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp để trang trải một phần chi phí cho việc học tập và nghiên cứu của các em, giúp các em yên tâm hơn trong quá trình học tập của mình, góp phần thực hiện chƣơng trình về mục tiêu quốc gia cải thiện chất lƣợng nguồn nhân lực.” Do nguồn lực của Việt Nam còn hạn chế, nên cho vay HSSV ở Việt Nam đƣợc giới hạn tới những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn mà thôi. Qua đó, tác giả cho rằng: “cho vay HSSV là hình thức cho vay tiêu dùng, theo đó các tổ chức cho vay cấp cho HSSV một khoản tiền nhất định trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định nhằm hỗ trợ HSSV có thêm nguồn tài chính để đóng học phí, chi trả các khoản sinh hoạt phí, tiền mua tài liệu trong quá trình học tập.” Có thể thấy, về bản chất của cho vay HSSV: Thứ nhất, cho vay HSSV là“việc sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nƣớc huy động để cho HSSV vay vốn trong đó chú trọng đến những HSSV có hoàn cảnh khó khăn, đang theo học tại các trƣờng đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề nhằm trang trải một phần chi phí học tập, sinh hoạt của HSSV trong thời gian theo học tại trƣờng bao gồm: học phí, chi phí mua sách vở, phƣơng tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại.”Họ không có quyền sử dụng khoản vay này cho các hoạt động khác.
Vì vậy, giám sát việc sử dụng khoản vay này là trách nhiệm của các chủ thể có liên quan. Thứ hai, việc hoàn trả vốn vay theo nguyên tắc phải bảo toàn về giá trị và giá trị tăng thêm. Xét về mặt hình thức thì việc cho vay này giống với các quan hệ tín dụng khác là khi cho vay tiền đều phải thu lãi, có vay, có trả. Nhƣng về bản chất thì cho vay HSSV không chỉ vì mục đích thu lãi mà còn chủ yếu thỏa mãn nhu cầu vay 9 vốn của HSSV để học tập, nâng cao tay nghề, tự tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, thoát nghèo một cách bền vững.
Vậy cho vay HSSV phải thực hiện đƣợc hai mục tiêu: Một là công cụ xúc tiến sự công bằng trong giáo dục, an sinh xã hội, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao; hai là tổ chức tài chính để có thể tiếp tục hoạt động một cách bền vững. Sự cần thiết của cho vay học sinh, sinh viên Chính sách tín dụng HSSV hiện nay đã đƣợc thực hiện hơn 70 quốc gia trên thế giới và đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Theo Tilak (1992) cho rằng “chƣơng trình tín dụng HSSV sẽ trút đƣợc gánh nặng đầu tƣ vào giáo dục đại học từ thế hệ hiện tại cho một thế hệ tƣơng lai và cho vay học sinh đƣợc ủng hộ trên cơ sở: tiềm năng tài nguyên, tính công bằng trong việc chia sẻ chi phí giáo dục đại học và hiệu quả bằng cách làm cho HSSV cảm thấy quan trọng hơn đối với giáo dục và nghề nghiệp của mình.” Ở các nƣớc đang phát triển mức sống nói chung đều thấp đối với đại đa số dân chúng. Mức sống thấp đƣợc biểu thị cả về lƣợng lẫn chất dƣới dạng thu nhập thấp, thiếu nhà ở, sức khỏe kém, không đƣợc hoặc ít đƣợc học hành.
Về sự phân bố sản phẩm xã hội: khoảng 83% tổng thu nhập thế giới đƣợc phân bổ trong những khu vực kinh tế phát triển, nơi chƣa đƣợc ¼ dân số thế giới. Còn lại ¾ dân số thế giới thuộc các nƣớc đang phát triển chủ nhận đƣợc 17% tổng sản phẩm của toàn thế giới. Hiện nay, thu nhập bình quân đầu ngƣời của các nƣớc đang phát triển tính trung bình ít hơn 1/16 thu nhập bình quân của các nƣớc phát triển. Các nhà kinh tế trên thế giới thƣờng lấy mức 2.000 USD/ngƣời làm mốc phản ánh khả năng giải quyết đƣợc những nhu cầu cơ bản của con ngƣời, đạt đƣợc mức độ này phản ánh sự biến đổi về chất lƣợng trong hoạt động kinh tế và đời sống xã hội.
Hiện nay có khoảng 100 quốc gia đang phát triển có mức thu nhập bình quân dƣới 2.000 USD/ngƣời, trong đó có khoảng 40 quốc gia có nhu nhập bình quân dƣới 600USD/ngƣời. Điều này phản ánh khả năng hạn chế của các nƣớc đang phát triển trong việc giải quyết các nhu cầu cơ bản của con ngƣời. 10 Ngoài việc mức thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp, các nƣớc đang phát triển còn có tốc độ tăng trƣởng GNP chậm hơn các nƣớc đang phát triển. Hiện nay, trên thế giới tất cả các quốc gia đều có mức bất bình đẳng nhất định.