Luận văn: Chế tạo và Nghiên cứu Van Spin NiCoO/FM/Cu/FM Kích Thước Nanomet

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế tạo van spin NiCoFe/CuO/FeMn kích thước nanomet. Tìm hiểu đặc tính từ và điện của cấu trúc màng mỏng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

57
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: HIỆN TƯỢNG TỪ TRỞ KHỔNG LỒ GMR

1.1. Tương tác trao đổi dạng dao động RKKY trong màng từ đa lớp

1.2. Cấu trúc van spin

2. DỊ HƯỚNG TRAO ĐỔI GIỮA HAI LỚP SẮT TỪ/PHẢN SẮT TỪ

2.1. Dị hướng trao đổi

3. CÁC PHƢƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

3.1. Phƣơng pháp chế tạo mẫu

3.2. Phương pháp phún xạ

3.3. Phương pháp phún xạ phản ứng

3.4. Các phƣơng pháp phân tích và đo đạc

3.5. Xác định chiều dày màng mỏng

3.6. Xác dịnh thành phần hoá học bằng phổ kế huỳnh quang tia X

3.7. Xác định vi cấu trúc và thành phần pha bằng nhiễu xạ tia X

3.8. Đo từ trở bằng phương pháp bốn mũi dò cách đều trong từ trường

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Chế tạo và nghiên cứu màng Ni1-xCoxO

4.2. Chế tạo màng Ni1-xCoxO

4.3. Xác định hàm lượng Co trong màng Ni1-xCoxO

4.4. Phân tích cấu trúc màng NiCoO

4.5. Chế tạo và nghiên cứu van spin NiCoO/FM/Cu/FM

4.6. Chế tạo van spin có hàm lượng Co, độ dày lớp Cu hoặc lớp đệm thay đổi

4.7. Khảo sát thế hiệu dịch của van spin theo hàm lượng Co

4.8. Khảo sát giá trị MR của van spin theo độ dày lớp Cu

4.9. Khảo sát giá trị MR của van spin theo độ dày lớp đệm

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Chế Tạo Nghiên Cứu Van Spin NiCoO FM Cu FM

Hiện tượng từ trở khổng lồ (GMR) đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu sôi động kể từ khi được phát hiện vào cuối những năm 1980. Dù cơ chế vật lý của GMR trong màng mỏng vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ, các ứng dụng của nó đã được khai thác mạnh mẽ, đặc biệt là với cấu trúc van spin. Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu ứng GMR đang thu được những kết quả ban đầu. Hiệu ứng GMR xảy ra trên các cấu trúc màng mỏng đa lớp, đòi hỏi yêu cầu cao về thiết bị và công nghệ. Do đó, việc tìm ra một chế độ công nghệ thích hợp để chế tạo các màng đơn lớp trong cấu trúc đa lớp phức tạp là một yêu cầu bắt buộc và là bước quan trọng trong nghiên cứu về GMR. Luận văn này tập trung vào chế tạo và nghiên cứu van spin NiCoO/FM/Cu/FM kích thước nanomet, trong đó FM là các lớp vật liệu sắt từ Ni81Fe19 hoặc Fe15Co85. Mục tiêu chính là chế tạo được các màng mỏng từ đơn lớp trong cấu trúc van spin và nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ lên tính chất của chúng, từ đó tìm ra công nghệ tối ưu cho phép chế tạo màng đa lớp có hiệu ứng GMR lớn.

1.1. Giới thiệu Hiệu ứng Từ Trở Khổng Lồ GMR

Hiệu ứng từ trở (MR) là sự thay đổi điện trở suất dưới tác dụng của từ trường. Trong kim loại phi từ, hiệu ứng này do lực Lorentz, gọi là từ điện trở thường (OMR), rất nhỏ và ít ứng dụng. Trong kim loại hoặc hợp kim sắt từ, tỷ số MR cao hơn, do tương tác của điện tử dẫn với từ trường nội có tính dị hướng, gọi là từ điện trở dị hướng (AMR). Hiệu ứng này từng được ứng dụng rộng rãi để chế tạo cảm biến từ trường, đầu từ MR. Hiệu ứng GMR được quan sát lần đầu năm 1988 bởi nhóm Albert Fert, nghiên cứu hệ siêu mạng từ (001)Fe/(001)Cr, với tỷ số MR khoảng 50% ở 4,2K cho cấu trúc [Fe(30Å)/Cr(9Å)]40. Giải thích đầu tiên về GMR là do sự truyền phụ thuộc spin của điện tử dẫn. Điện tử với spin xác định có xác suất tán xạ khác nhau tại bề mặt phân cách giữa lớp sắt từ và phi từ, phụ thuộc vào sự sắp xếp từ độ của các lớp sắt từ.

1.2. Tầm quan trọng của Cấu trúc Van Spin trong GMR

Cấu trúc van spin là cấu trúc màng mỏng đa lớp thích hợp nhất với hiệu ứng GMR. Khác với siêu mạng từ [Fe/Cr]n, van spin cơ bản gồm 2 lớp sắt từ xen giữa là 1 lớp phi từ. Mục đích là từ độ của 2 lớp sắt từ phải sắp xếp phản song với nhau (AFM). Sau đó, dùng từ trường ngoài điều khiển sự sắp xếp này trở thành song song (FM) sẽ thu được hiệu ứng GMR. Các kiểu van spin thông dụng được chia thành van spin không ghim; van spin ghim đối xứng và van spin ghim bất đối xứng. Cách sắp xếp từ độ của 2 lớp sắt từ được thực hiện theo 2 phương pháp: Dựa trên tương tác trao đổi gián tiếp RKKY, bằng chính dòng điện chạy qua phần tử van spin. Cấu trúc van spin ghim đáy thường được sử dụng bởi vì sự sắp xếp từ độ trong các lớp sắt từ là chủ động, chắc chắn và đơn giản, đạt được hiệu quả sắp xếp từ độ của các lớp cao nhất, hơn nữa lại có thể dễ dàng tuyến tính hoá đặc tuyến của phần tử van spin khi dùng làm cảm biến. Đề tài này tập trung nghiên cứu vào cấu trúc van spin ghim đáy.

II. Thách Thức Ảnh Hưởng Các Yếu Tố Đến Hiệu Ứng GMR

Việc chế tạo các cấu trúc van spin NiCoO/FM/Cu/FM với hiệu ứng GMR lớn đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ các yếu tố như thành phần vật liệu, chiều dày lớp, độ nhám bề mặt và cấu trúc tinh thể. Một trong những thách thức lớn là tối ưu hóa tương tác trao đổi dị hướng giữa lớp sắt từ và phản sắt từ để đạt được sự ghim từ hiệu quả. Hơn nữa, việc lựa chọn và điều chỉnh độ dày lớp Cu cũng rất quan trọng để đạt được sự sắp xếp từ độ phản song tối ưu giữa các lớp sắt từ. Các yếu tố công nghệ như áp suất phún xạ, nhiệt độ đế và tốc độ lắng đọng cũng có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của màng mỏng và hiệu suất GMR. Vì vậy, việc nghiên cứu và hiểu rõ ảnh hưởng của từng yếu tố là rất cần thiết để tối ưu hóa quy trình chế tạo và đạt được hiệu suất GMR cao.

2.1. Tối ưu Tương Tác Trao Đổi Dị Hướng Exchange Bias

Tương tác trao đổi dị hướng (Exchange Bias) là yếu tố then chốt để ghim từ lớp sắt từ. Nó phát sinh từ liên kết trao đổi giữa vật liệu sắt từ (FM) và phản sắt từ (AFM). Hiệu ứng này dịch chuyển đường cong từ trễ, thể hiện qua thế hiệu dịch Hex. Cơ chế liên quan đến sự ghim spin tại mặt phân giới FM/AFM khi làm lạnh dưới nhiệt độ Neel. Việc điều chỉnh các vật liệu sắt từ và phản sắt từ (như NiCoO) trong cấu trúc van spin đòi hỏi hiểu rõ về bản chất tương tác, phụ thuộc vào mật độ spin không bù trừ bề mặt AFM và hằng số dị hướng từ. Các nghiên cứu tập trung vào tối ưu hóa vật liệu và điều kiện tạo màng để tăng cường hiệu ứng trao đổi hiệu dịch, từ đó cải thiện độ ổn định của cấu trúc van spin.

2.2. Kiểm soát Độ Dày Lớp Cu cho Sắp Xếp Từ Độ Phản Song

Lớp Cu đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc van spin bằng cách ngăn cách hai lớp sắt từ và tạo điều kiện cho tương tác RKKY. Tương tác RKKY là tương tác gián tiếp giữa các lớp sắt từ thông qua các điện tử dẫn trong lớp phi từ tính. Cường độ và dấu của tương tác này (FM hoặc AFM) phụ thuộc vào độ dày lớp Cu. Việc kiểm soát chính xác độ dày lớp Cu là rất quan trọng để đạt được sự sắp xếp từ độ phản song tối ưu giữa các lớp sắt từ, từ đó tối đa hóa hiệu ứng GMR. Các nghiên cứu thường tập trung vào việc khảo sát sự phụ thuộc của GMR vào độ dày lớp Cu để tìm ra giá trị tối ưu.

III. Phương Pháp Chế Tạo Nghiên Cứu Màng NiCoO FM Cu FM Nano

Luận văn này sử dụng phương pháp phún xạ Catốt để chế tạo các loại màng mỏng NiCoO, NiFe, FeCoCu. Việc lựa chọn các loại màng mỏng này là do chúng thích hợp cho việc khai thác những ưu thế sẵn có trong hệ phún xạ của chúng tôi. Ở đây, việc khống chế các tham số công nghệ được chú ý nhằm thu được các màng mỏng có thành phần hoá học, chiều dày, kích thước hạt, độ ráp bề mặt… với các thông số mong muốn. Các thông số này đã được khảo sát trên những phương tiện nghiên cứu hiện đại với độ tin cậy cao. Phương pháp phún xạ phản ứng được sử dụng để tạo màng NiCoO. Các phương pháp phân tích và đo đạc được sử dụng bao gồm xác định chiều dày màng mỏng, xác định thành phần hoá học bằng phổ kế huỳnh quang tia X, xác định vi cấu trúc và thành phần pha bằng nhiễu xạ tia X và đo từ trở bằng phương pháp bốn mũi dò cách đều trong từ trường.

3.1. Ứng Dụng Phương Pháp Phún Xạ Catốt Sputtering để Chế Tạo Màng

Phương pháp phún xạ tạo màng mỏng dựa trên hiện tượng va chạm các hạt có động năng lớn với các nguyên tử cấu thành bia rắn làm bật chúng ra khỏi bia và lắng đọng lên đế. Hệ phún xạ Edward Auto 306 của Viện Khoa học Vật liệu được sử dụng chế tạo tất cả các hệ màng mỏng kim loại, hợp kim và ôxit. Đây là hệ phún xạ catốt với 2 nguồn DC và RF (tần số 13,65 MHz) và 3 bia (1 bia cho nguồn DC và 2 bia cho nguồn RF). Các bia tiêu chuẩn có đường kính là 7,5 cm với độ dày từ 0,55 mm được đặt trên các nguồn. Quá trình phún xạ tạo màng được diễn ra như sau: buồng mẫu được hút chân không cao bằng bơm Turbo đến áp suất 10-510-6 mBar. Khí Ar công nghiệp (đóng vai trò là các hạt bắn phá) được đưa vào với áp suất 10-210-3 mBar trong suốt quá trình phún xạ.

3.2. Phương pháp Phún Xạ Phản Ứng cho màng NiCoO chất lượng cao

Phương pháp phún xạ phản ứng sử dụng các bia kim loại thuần túy nhưng quá trình phún xạ diễn ra trong môi trường hỗn hợp khí Ar và O2. Các nguyên tử sau khi bứt ra khỏi bia sẽ phản ứng với khí O2 tạo thành ôxit và lắng đọng lên đế. Tùy thuộc bản chất mỗi loại vật liệu mà tỷ phần trong hỗn hợp khí Ar và O2 là khác nhau. Áp suất riêng phần của O2 được điều chỉnh trong khoảng thích hợp sao cho có đủ lượng O2 để tạo thành màng ôxi hóa hoàn toàn mà vẫn không gây ôxi hóa các thiết bị khác trong buồng chân không. Với những kim loại khó tạo thành ôxit, đế được đốt nóng để phản ứng ôxi hóa xảy ra dễ dàng hơn.

3.3. Các Phương Pháp Đo Đạc Phân Tích Màng Mỏng Nano

Các phương pháp phân tích và đo đạc được sử dụng bao gồm: Đo chiều dày bằng phương pháp vạch mũi dò (Alpha-Step 200) và dao động bản thạch anh. Xác định thành phần hóa học bằng phổ kế huỳnh quang tia X (PKHQTX). Xác định vi cấu trúc và thành phần pha bằng nhiễu xạ tia X. Đo từ trở bằng phương pháp bốn mũi dò cách đều trong từ trường. Cấu hình đo là cấu hình ngang: từ trường và dòng điện nằm trong mặt phẳng màng, từ trường vuông góc với dòng điện. Tất cả các phép đo đều được thực hiện ở nhiệt độ phòng.

IV. Kết Quả Ảnh Hưởng Hàm Lượng Co Đến Đặc Tính Van Spin

Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng Co trong lớp Ni1-xCoxO đến tính chất từ của cấu trúc van spin. Các mẫu màng Ni1-xCoxO được chế tạo bằng phương pháp phún xạ phản ứng với các diện tích tấm Co ghép trên bia Ni khác nhau. Kết quả phổ huỳnh quang tia X cho thấy sự thay đổi hàm lượng Co trong các mẫu. Kết quả nhiễu xạ tia X cho thấy màng NiCoO kết tinh có định hướng tốt trên đế Si (100). Hơn nữa, luận văn cũng trình bày ảnh hưởng của độ dày lớp Cu và lớp đệm đến hiệu ứng từ trở (MR).

4.1. Hàm lượng Co trong Màng Ni1 xCoxO Cấu trúc

Các mẫu màng Ni1-xCoxO được chế tạo bằng phương pháp phún xạ phản ứng theo cùng một điều kiện công nghệ. Bia Ni ghép tấm Co (có các diện tích khác nhau) được đặt trên nguồn DC. Để thay đổi được hàm lượng Co trong màng Ni1-xCoxO, diện tích tấm Co ghép trên bia Ni đã được thay đổi sau mỗi lần chế tạo. Diện tích vạch phổ của Co tăng dần lên trong khi diện tích vạch phổ của Ni giảm dần xuống. Dựa vào các số liệu tính toán thành phần Ni và Co theo % nguyên tử. Các kết quả đều cho thấy màng NiCoO kết tinh có định hướng rất tốt trên đế Si (100).

4.2. Thế hiệu dịch của Van Spin theo Hàm lượng Co

Việc thay đổi hàm lượng Co trong lớp Ni1-xCoxO sẽ làm thay đổi giá trị thế hiệu dịch Hex gây bởi tương tác trao đổi giữa hai lớp Ni1-xCoxO/NiFe. Với hàm lượng Co bằng 9 %, giá trị Hex lớn nhất thu được là 350 Oe. Chúng tôi cho rằng tương tác dị hướng trao đổi giữa hai lớp Ni1-xCoxO/NiFe được quyết định chủ yếu bởi dị hướng từ tinh thể (K1, K2) của lớp phản sắt từ Ni1-xCoxO.

4.3. Giá trị MR của Van Spin theo Độ Dày Lớp Cu

Với độ dày lớp Cu bằng 3,2 nm, MR có giá trị lớn nhất bằng 3%. Khi độ dày lớp Cu tăng lên hoặc giảm xuống quanh giá trị này đều làm cho giá trị của MR giảm theo. Tương tác từ giữa hai lớp NiFe sẽ là tương tác phản song hoàn toàn. Khả năng tán xạ điện tử với các mômen từ là mạnh nhất làm cho độ chệnh lệch giữa hai trạng thái điện trở theo từ trường ngoài lớn nhất, kết quả dẫn đến MR đạt giá trị lớn nhất bằng 3%.

V. Kết Quả Lớp Đệm FeCo Tăng Đáng Kể Giá Trị MR

Việc sử dụng lớp đệm FeCo trong cấu trúc van spin đã mang lại kết quả đầy hứa hẹn. Giá trị MR cực đại thu được là 9% tương ứng với độ dày lớp đệm bằng 2 nm. Đây là một kết quả rất có ý nghĩa về mặt công nghệ bởi vì chỉ cần cải tiến quy trình chế tạo mẫu, chúng tôi đã thu được giá trị từ trở gấp đôi giá trị trước. Điều này đã mở ra nhiều hướng đi mới trong việc nghiên cứu và ứng dụng các phần tử van spin.

5.1. Ảnh hưởng của Lớp Đệm FeCo Đến Giá Trị Từ Trở MR

Sự tán xạ của điện tử phụ thuộc spin của FeCo cao hơn nhiều so với NiFe. Hơn nữa chúng tôi cho rằng sử dụng lớp đệm FeCo sẽ điều khiển được spin bề mặt các lớp từ. Các kết quả này sẽ làm tăng tỉ số của giá trị từ trở. Khi không có lớp đệm, mặt phẳng dị hướng từ của lớp phản sắt từ NiCoO không hoàn toàn nằm trong mặt phẳng màng, dẫn đến mômen từ của lớp bị ghim FeCo cũng không nằm trong mặt phẳng.

5.2. Giá Trị Từ Trở Cực Đại với Lớp Đệm FeCo

Khi không có lớp đệm, mặt phẳng dị hướng từ của lớp phản sắt từ NiCoO không hoàn toàn nằm trong mặt phẳng màng, dẫn đến mômen từ của lớp bị ghim FeCo cũng không nằm trong mặt phẳng. Kết quả cho thấy giá trị MR cực đại thu được là 9% tương ứng với độ dày lớp đệm bằng 2 nm.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Van Spin NiCoO FM Cu FM

Luận văn đã thành công trong việc chế tạo và nghiên cứu các cấu trúc van spin NiCoO/FM/Cu/FM kích thước nanomet. Các kết quả cho thấy vai trò quan trọng của việc kiểm soát hàm lượng Co, độ dày lớp Cu và đặc biệt là việc sử dụng lớp đệm FeCo trong việc tối ưu hóa hiệu ứng GMR. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế vật lý của các hiện tượng xảy ra trong cấu trúc van spin, cũng như tìm kiếm các vật liệu và quy trình chế tạo mới để nâng cao hơn nữa hiệu suất của các thiết bị dựa trên GMR.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu

Màng NiCoO có thể thay đổi đơn giản bằng cách thay đổi diện tích tấm ghép Co trên bia Ni, phương pháp phún xạ phản ứng thích hợp cho việc chế tạo màng NiCoO vì công nghệ đơn giản cho màng đơn pha và kết tinh có định hướng tốt, và tương tác dị hướng trao đổi giữa hai lớp Ni1-xCoxO/NiFe được quyết định chủ yếu bởi dị hướng từ tinh thể lớp Ni1-xCoxO. Độ dày lớp Cu bằng 3,2 nm cho MR đạt giá trị lớn nhất bằng 3%. Sử dụng lớp đệm FeCo sẽ điều khiển được spin bề mặt các lớp từ. Giá trị MR cực đại thu được là 9% tương ứng với độ dày lớp đệm bằng 2 nm.

6.2. Triển Vọng Ứng Dụng và Nghiên Cứu Tiếp Theo

Các kết quả nghiên cứu này có tiềm năng ứng dụng trong việc chế tạo các thiết bị lưu trữ dữ liệu mật độ cao, cảm biến từ trường và các linh kiện điện tử spin. Trong tương lai, cần tập trung vào việc nghiên cứu các vật liệu phản sắt từ mới có dị hướng từ lớn hơn, tối ưu hóa cấu trúc van spin để giảm kích thước và tăng tốc độ hoạt động, cũng như khám phá các ứng dụng mới của hiệu ứng GMR trong các lĩnh vực khác.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. HIỆN TƯỢNG TỪ TRỞ KHỔNG LỒ GMR Từ những năm cuối của thập kỉ 80 trở lại đây, nhiều hiện tượng và tính chất vật lý mới đã được khám phá và nghiên cứu rất mạnh mẽ trên các hệ từ có kích thước giới hạn, đặc biệt là với những cấu trúc kích thước nanomet. Nổi bật lên trong số đó là hiệu ứng từ trở khổng lồ GMR trong các màng mỏng từ hay trong các siêu mạng từ. Về phương diện vật lý, hiệu ứng GMR là hiện tượng mới, những hiểu biết về nó chưa có nhiều và cơ chế của hiệu ứng này còn nhiều điều vẫn đang cần được làm sáng tỏ.

Trong khi đó, các linh kiện hoạt động dựa trên hiệu ứng GMR hiện đang được khai thác ráo riết và triển khai ứng dụng rộng rãi trong đời sống bởi vì nó đáp ứng được những yêu cầu mới của ngành công nghệ thông tin và điện tử học hiện đại. Những ứng dụng nổi bật có thể thấy rõ trong lĩnh vực lưu trữ thông tin, đo lường từ và điều khiển bằng từ trường. Những sản phẩm thương mại đã được chế tạo ứng dụng hiệu ứng GMR mang tính chất đột phá có thể kể đến như các cảm biến từ trường thấp, đầu đọc từ mật độ cao và bộ nhớ từ không tự xoá trong máy tính… Hiệu ứng từ trở (MR) là một dạng của hiện tượng từ điện, đó là sự thay đổi của điện trở suất (hay độ dẫn điện) trong các vật dẫn dưới tác dụng của từ trường bên ngoài. Về nguyên tắc, hiệu ứng MR có trong bất kì kim loại phi từ nào và thường tăng theo cường độ từ trường ngoài tác dụng.

Cơ chế của nó là do lực Lorentz và gọi là hiệu ứng từ điện trở thường (OMR). Hiệu ứng này rất nhỏ (dưới 1%) nên ít có ứng dụng thực tế. Trong các kim loại hay hợp kim sắt từ, tỷ số MR cao hơn so với hiệu ứng OMR (có thể tới 45 % với hợp kim pecmaloy NiFe). Cơ chế của nó là do tương tác của điện tử dẫn với từ trường nội có tính dị hướng và gọi là hiệu ứng từ điện trở dị hướng (AMR).

Hiệu ứng đã từng được ứng dụng rộng rãi để chế tạo các cảm biến từ trường, đầu từ MR [1]. Hiệu ứng GMR lần đầu tiên được quan sát thấy vào năm 1988 khi nhóm của Albert Fert của trường Đại học Tổng hợp Nam Pari nghiên cứu hệ siêu mạng từ (001)Fe/(001)Cr chế tạo theo phương pháp epitaxy bằng chùm phân tử (MBE) [4]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Tỷ số MR đạt được khoảng 50% ở nhiệt độ 4,2 0K đối với hệ có cấu trúc [Fe(30Å)/Cr(9Å)]40, nghĩa là hệ gồm 40 lớp kép Fe/Cr, chiều dày Fe và Cr trong mỗi lớp kép tương ứng là 30Å và 9Å. Giá trị MR này rất lớn chưa từng quan sát thấy trước đó nên hiệu ứng này được gọi tên là từ điện trở khổng lồ (GMR).

Từ trở của 3 siêu mạng Fe/Cr đo ở nhiệt độ 4,2 0K Sau đó, một loạt các hệ từ đa lớp cũng như không phân lớp khác đã được chế tạo và nghiên cứu, kết quả là chúng đều có hiệu ứng GMR. Điều đó chứng tỏ GMR là hiện tượng phổ biến trong các hệ từ có cấu trúc không liên tục (sắt từ xen giữa các lớp phi từ). Những giải thích đầu tiên về hiệu ứng GMR là do sự truyền phụ thuộc spin của các điện tử dẫn. Do thuộc tính có spin của điện tử, nên các điện tử với chiều spin xác định (spin- hoặc spin-) có xác suất tán xạ khác nhau tại bề mặt phân cách giữa các lớp sắt từ và phi từ, nó phụ thuộc cả vào sự sắp xếp từ độ của các lớp sắt từ.

Khi không có từ trường ngoài, các lớp sắt từ sắp xếp phản song với nhau, cả hai loại điện tử với spin- và spin- đều bị tán xạ như nhau khi đi qua cấu trúc này nên điện trở của cả hệ là lớn. Từ trường ngoài có tác dụng sắp xếp lại vectơ từ độ của các lớp sắt từ theo hướng song song với nhau. Khi đó, xác suất tán xạ của một trong hai loại spin- hoặc spin- sẽ giảm xuống và coi như hệ mở thông kênh spin TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 này, các điện tử dẫn chủ yếu là do điện tử với một trong hai loại spin có xác suất tán xạ thấp [4]. Lí p tõ Lí p phi tõ H=0 H > HS     Spin- Spin- Spin- Spin- Spin- Spin- Spin- Spin- a) b) AF FM Hình 1.

Sơ đồ minh hoạ cơ chế tán xạ điện tử với các spin khác nhau trong cấu hình đo CPP của màng từ đa lớp. a) Liên kết AFM, b) Liên kết FM.3 là sơ đồ đơn giản minh hoạ cơ chế tán xạ điện tử với các spin khác nhau trong màng từ đa lớp. Trạng thái điện trở cao ứng với sự phản song của các vec tơ từ độ (a) và trạng thái điện trở thấp ứng với sự song song của các vec tơ từ độ (b).2, dòng điện được đặt vuông góc với mặt phẳng màng (CPP), do đó nó đi từ lớp từ này sang lớp từ khác thông qua các lớp phi từ.3, dòng điện chạy trong mặt phẳng màng (CIP) và tán xạ với các mô men từ tại bề mặt phân cách là chủ yếu. Mặc dù sự tán xạ phụ thuộc spin bắt nguồn từ các lớp sắt từ, nhưng một điều đặc biệt quan trọng là sự tán xạ không chỉ xảy ra trong lòng mỗi lớp sắt từ mà cả ở bề mặt phân cách giữa lớp sắt từ và lớp phi từ.

Sự tán xạ phụ thuộc spin xảy ra bên trong của lớp sắt từ gọi là tán xạ khối, còn ở trên bề mặt phân cách giữa lớp từ và lớp phi từ gọi là tán xạ a) Trạng thái điện trở cao mặt phân cách. Thực nghiệm cho thấy tán xạ trên mặt phân cách là đóng góp chính của GMR trong b) Trạng thái điện trở thấp Hình 1. Sơ đồ minh hoạ cơ chế tán xạ điện tử với các spin khác nhau trong cấu hình đo CIP của màng từ đa lớp. a) Liên kết AFM, b) Liên kết FM.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 cấu hình đo CIP. Tán xạ bề mặt càng mạnh thì tỷ số GMR càng lớn. Các mô hình lý thuyết được xây dựng về sau này để giải thích bản chất của GMR cũng chủ yếu dựa trên sự tán xạ bất đối xứng giữa 2 kênh dẫn spin gây bởi sự sắp xếp song song (FM) hay phản song song (AFM) của các lớp sắt từ. Ngoài ra còn có sự đóng góp một phần của tán xạ phụ thuộc spin ở bên trong các hạt sắt từ.

Như vậy, có thể thấy rằng nguyên nhân gây nên hiệu ứng GMR là do sự sắp xếp lại các vectơ từ độ theo hướng song song với nhau dưới tác dụng của từ trường. Tỷ số GMR sẽ đạt được giá trị cao nhất khi các vectơ từ độ là hoàn toàn phản song với nhau trong trạng thái không có từ trường, còn khi có từ trường, chúng là hoàn toàn song song (Hình 1. ∆R/R0 - HS 0 HS Từ trường Hình 1. Đường cong từ trở của màng từ đa lớp với các cấu hình từ độ tương ứng 1.

Tương tác trao đổi dạng dao động RKKY trong màng từ đa lớp Tương tác trao đổi giữa các lớp sắt từ thông qua lớp đệm bằng kim loại phi từ thường được khảo sát trong các màng từ đa lớp loại {FM(tF))/NM(tnm)}n trong đó FM là kim loại chuyển tiếp sắt từ FM = Fe, Co, Ni và các hợp kim của chúng với độ dày tF, NM là các kim loại phi từ như Cu, Ag, Au, Cr, Mo, Ru, Re, Ir… với độ dày tnm. Trong trường hợp các màng mỏng có chất lượng tốt, sự thay đổi của cường độ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tương tác trao đổi giữa hai lớp sắt từ J12 theo độ dày lớp đệm tnm có dạng dao động tắt dần như được minh hoạ trên hình 1.5 cho các màng mỏng đa lớp {Ni80Co20/Ru/Ni80/Co20}n. Chu kỳ của các dao động này chỉ vào khoảng vài lớp nguyên tử. Tuỳ theo chiều dày tnm sự định hướng tự phát từ độ trong hai lớp sắt từ hoặc là song song (tương tác FM) hoặc là phản song song (tương tác AFM).

Phản sắt từ (AF) Sắt từ (FM) Chiều dày lớp cách Ru (Å0) Hình 1. Sự dao động của hằng số liên kết trao đổi J12 giữa 2 lớp theo khoảng cách Liên kết từ kiểu như vậy gây nên một sự phân cực của các điện tử trong các kim loại không từ tính (đặc biệt ở gần bề mặt tiếp xúc với lớp từ tính). Trong các vật liệu dạng khối, chúng ta đã thấy rằng một tạp chất từ (ví dụ như Mn) trên nền của kim loại Cu có thể làm phân loại các điện tử dẫn của Cu ở lân cận ion Mn. Lúc đó mật độ trạng thái của các điện tử có spin- và spin- ở xung quanh tạp chất từ sẽ không bằng nhau gây nên sự phân cực spin.

Sự phân cực này dao động với véctơ sóng 2kF (kF là vectơ sóng Fermi). Nếu tính theo khoảng cách r từ tâm tạp chất, sự dao động của cường độ tương tác đó sẽ giảm theo quy luật 1/r3 tương tự như tương tác RKKY. Nếu một tạp chất từ khác định xứ ở trên một khoảng cách nào đó thì tương tác giữa các điện tử dẫn của Cu và tạp chất thứ hai này sẽ quy định định hướng từ độ của hai tạp chất từ. Sự định hướng đó là song song hoặc phản song song tuỳ thuộc vào khoảng cách giữa chúng.

Trong màng mỏng đa lớp, cơ chế tương tự cũng đã được áp dụng, sự phân cực có tính dao động của các điện tử trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 lớp đệm không từ tính được cảm ứng bởi các nguyên tử từ tính nằm gần các lớp giao diện FM/NM [5]. Sự dao động của hiệu ứng từ trở theo độ dày lớp đệm phi từ cũng được quan sát trong trường hợp của hệ mẫu {Co(10 A0)/Cu( tCu)}n như minh hoạ trên hình 1. Nhận thấy rằng trong quy luật dao động này tỷ số MR luôn có giá trị lớn ứng với các cấu hình tương tác phản sắt từ AFM của các lớp từ tính [6]. Sự dao động của GMR theo độ dày lớp Cu trong hệ {Co(10 A0)/Cu(tCu)}n ở nhiệt độ 4,2K và 300K.

Cấu trúc van spin Cấu trúc dạng màng mỏng đa lớp tỏ ra thích hợp nhất với hiệu ứng GMR. Ngoài cấu trúc siêu mạng từ giống như cấu trúc [Fe/Cr]n ở trên, người ta còn nghiên cứu GMR trên một cấu trúc mới gọi là cấu trúc van spin thực hiện lần đầu tiên vào năm 1991 [7]. Cấu trúc van spin cơ bản gồm 2 lớp sắt từ xen giữa là 1 lớp phi từ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ