Tổng quan nghiên cứu

Vật liệu đa pha điện từ (multiferroics) sở hữu đồng thời trật tự sắt điện và trật tự sắt từ trong cùng một pha cấu trúc, mở ra tiềm năng lớn cho các thế hệ linh kiện vi điện tử đa chức năng như bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên sắt điện FeRAMs, bộ nhớ từ điện trở MRAMs và các cảm biến độ nhạy cao. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015, các công bố khoa học về vật liệu Bismuth Ferrite (BiFeO3) chiếm khoảng 42.97% tổng số công trình nghiên cứu về multiferroics trên toàn cầu, khẳng định vị thế trung tâm của hệ vật liệu này. BiFeO3 sở hữu nhiệt độ chuyển pha sắt điện Curie đạt khoảng 1103 K và nhiệt độ chuyển pha phản sắt từ Néel xấp xỉ 643 K, cho phép độ phân cực sắt điện lý thuyết đạt ngưỡng 100 micro Coulomb trên centimet vuông. Tuy nhiên, rào cản lớn hạn chế ứng dụng thực tế của BiFeO3 dạng gốm khối là dòng rò lớn do khuyết tật mạng và cấu trúc spin xoắn cycloid triệt tiêu từ độ dư tự phát.

Nhằm khắc phục các hạn chế này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quang học tập trung thực hiện đề tài chế tạo và nghiên cứu tính chất quang, từ của hệ vật liệu Bi0.9Sm0.1Fe1-xCrxO3 tại vùng biên pha cấu trúc với nồng độ Crom biến thiên từ x = 0 đến x = 0.10. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm tại Khoa Vật lý và Công nghệ thuộc Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên trong giai đoạn 2018 - 2019. Mục tiêu trọng tâm là làm sáng tỏ cơ chế chuyển pha tinh thể, sự thay đổi vi cấu trúc, mối liên hệ giữa góc liên kết Fe3+-O-Fe3+ với tương tác từ, đồng thời đánh giá sự thu hẹp độ rộng vùng cấm quang từ mức 2.70 eV xuống 1.85 eV, mở rộng khả năng ứng dụng trong quang xúc tác và lưu trữ dữ liệu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết trật tự đa pha điện từ và hiệu ứng liên kết từ - điện (magnetoelectric coupling). Cơ chế này mô tả sự tương tác giữa độ phân cực điện tự phát và độ từ hóa trong cùng một mạng tinh thể, cho phép điều khiển trạng thái từ bằng điện trường ngoài và ngược lại thông qua biến dạng cơ học áp điện - từ giảo.

Vật liệu BiFeO3 có cấu trúc perovskite ABO3, trong đó ion Bi3+ tại vị trí A với cặp điện tử tự do 6s2 tạo nên tính sắt điện với nhiệt độ Curie khoảng 1103 K, còn ion Fe3+ với lớp vỏ d điền đầy một phần tại vị trí B quyết định các moment từ. Trật tự từ của vật liệu được chi phối bởi tương tác siêu trao đổi gián tiếp và tương tác bất đối xứng Dzyaloshinskii - Moriya. Các khái niệm chính bao gồm:

  • Vùng biên pha cấu trúc: Trạng thái cạnh tranh và đồng tồn tại của nhiều pha đối xứng khác nhau, tạo nên độ nhạy cao đối với kích thích ngoại trường.
  • Biến dạng bát diện FeO6: Sự quay lệch góc liên kết Fe3+-O-Fe3+ dọc theo phương 111, phá vỡ chu kỳ xoắn từ spin cycloid 62 nm.
  • Năng lượng vùng cấm quang học: Khoảng cách năng lượng giữa dải hóa trị (orbital O 2p) và dải dẫn (Fe 3d và Bi 6p), quy định khả năng hấp thụ photon ánh sáng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phản ứng pha rắn để tổng hợp hệ gốm khối Bi0.9Sm0.1Fe1-xCrxO3 với 6 mẫu có nồng độ x = 0.00, 0.02, 0.04, 0.06, 0.08 và 0.10. Khối lượng mỗi mẻ được cân chính xác 2.0 gam từ các oxit Bi2O3, Sm2O3, Fe2O3 và Cr2O3 có độ sạch trên 99%. Lựa chọn phương pháp phản ứng pha rắn vì đây là giải pháp tối ưu để tạo gốm đa tinh thể có độ đồng nhất cao qua khuếch tán nguyên tử.

Quy trình thực nghiệm trải qua hai giai đoạn nhiệt: hỗn hợp được nghiền ướt trong cồn 2 giờ, ép viên và nung sơ bộ tại 850 độ C trong 24 giờ; sau đó nghiền lần hai trong 2 giờ, ép viên và thiêu kết tại 930 độ C trong 12 giờ. Hệ thống phân tích bao gồm:

  • Nhiễu xạ tia X (XRD) trên hệ Rigaku Miniflex (bức xạ Cu-Kα, bước sóng 1.54060 Å, góc quét 2 theta từ 20 độ đến 70 độ) để định danh pha tinh thể và tính hằng số mạng.
  • Phổ tán xạ Raman trên hệ LabRAM HR Evolution Horiba (laser 532 nm, dải 100 - 2000 cm⁻¹) giúp phát hiện biến đổi cấu trúc cục bộ dưới 1%.
  • Kính hiển vi điện tử quét phát xạ trường (SEM) Hitachi S-4800 để khảo sát kích thước hạt và biên hạt.
  • Phổ hấp thụ UV-Vis trên hệ Jasco (400 - 800 nm) xác định năng lượng vùng cấm.
  • Từ kế mẫu rung (VSM) Lakeshore 7404 (dải từ trường -1 T đến 1 T, độ phân giải 10⁻⁷ emu) đo đường cong từ trễ tại nhiệt độ phòng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực nghiệm đã xác lập 4 phát hiện khoa học nổi bật: Thứ nhất, việc đồng pha tạp Samarium và Crom tạo ra sự chuyển pha cấu trúc rõ rệt. Tại nồng độ x = 0.02, mẫu gồm hai pha là mặt thoi R3c chiếm 98% và trực giao Pnam chiếm 2%. Khi x tăng đến 0.10, tỷ phần pha R3c giảm xuống 63%, pha Pnam tăng lên 25% và xuất hiện pha tứ giác Bi14CrO24 (nhóm I4/m) chiếm 12%. Tổng tỷ phần hai pha phụ đạt 37% tại x = 0.10, hình thành vùng biên pha cấu trúc đa pha. Thứ hai, ion Cr3+ có bán kính 0.600 Å nhỏ hơn Fe3+ (0.645 Å) làm thể tích ô cơ sở pha R3c giảm từ 373.2 ų xuống 368.5 ų. Phổ Raman ghi nhận mode dao động A1-2 dịch chuyển từ 233 cm⁻¹ (x = 0.02) về 209 cm⁻¹ (x = 0.10), tương đương mức dịch chuyển 24 cm⁻¹. Với hệ số biến thiên 18 cm⁻¹ trên mỗi độ, góc liên kết Fe3+-O-Fe3+ bị uốn cong giảm khoảng 1.3 độ. Thứ ba, ảnh SEM chỉ ra sự ức chế tăng trưởng hạt khi nồng độ Crom tăng. Kích thước hạt trung bình giảm từ 40 - 80 μm ở mẫu x = 0.02 xuống còn 15 - 20 μm ở mẫu x = 0.10, chuyển từ đa giác sang hạt khối phân tán xen kẽ các vùng hạt mịn dưới 1 μm của pha Bi14CrO24. Thứ tư, độ rộng vùng cấm quang học giảm từ 2.70 eV ở BiFeO3 nguyên bản xuống 1.85 eV tại x = 0.02. Khi x đạt từ 0.08 đến 0.10, dải hấp thụ mở rộng trên toàn vùng ánh sáng nhìn thấy 400 - 750 nm và lan sang vùng cận hồng ngoại trên 800 nm.

Thảo luận kết quả

Sự chuyển dịch đỉnh nhiễu xạ XRD về phía góc 2 theta lớn hơn quanh vị trí 32 độ thể hiện rõ sự suy giảm hằng số mạng và co rút thể tích tinh thể. Dữ liệu này được biểu diễn trực quan qua đồ thị biến thiên hằng số mạng a, c theo nồng độ x và bảng phân tích tỷ phần ba pha cấu trúc.

Phổ tán xạ Raman phân tách bằng hàm Lorentz trong khoảng 200 - 300 cm⁻¹ chứng minh sự biến dạng của bát diện FeO6. Việc thu hẹp góc liên kết Fe3+-O-Fe3+ khoảng 1.3 độ làm gia tăng tương tác Dzyaloshinskii - Moriya, phá vỡ cấu trúc phản sắt từ xoắn cycloid không gian của BiFeO3, qua đó giải phóng các moment từ chưa bù trừ và cải thiện từ tính vật liệu.

Trên đồ thị phổ hấp thụ, đường tiếp tuyến cắt trục năng lượng xác định chính xác độ rộng vùng cấm 1.85 eV. Sự xuất hiện của ion Cr3+ với orbital 3d chưa lấp đầy đã tạo các mức năng lượng tạp chất trung gian trong vùng cấm, tạo điều kiện cho các bước chuyển dời điện tử mới ở mức kích thích photon thấp hơn. Điều này giúp gốm Bi0.9Sm0.1Fe1-xCrxO3 hấp thụ ánh sáng khả kiến hiệu quả hơn so với các hệ đơn pha tạp từng được nghiên cứu trước đây.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển ứng dụng thực tiễn của hệ vật liệu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Tối ưu hóa chế độ thiêu kết: Các nhóm nghiên cứu công nghệ vật liệu cần điều chỉnh nhiệt độ thiêu kết trong khoảng 900 - 920 độ C trong môi trường kiểm soát khí oxy nhằm giảm tỷ phần pha tạp Bi14CrO24 xuống dưới 3% và hạ mật độ dòng rò xuống dưới 10⁻⁵ A/cm² trong thời gian 6 - 9 tháng.
  • Chế tạo màng mỏng định hướng: Phòng thí nghiệm công nghệ nano cần ứng dụng phương pháp lắng đọng xung laser (PLD) để phát triển màng mỏng epitaxial Bi0.9Sm0.1Fe1-xCrxO3 trên đế SrTiO3, đặt mục tiêu nâng độ phân cực sắt điện Pr vượt 65 micro Coulomb trên centimet vuông và từ độ dư Mr trên 0.5 emu/g trong 12 - 18 tháng.
  • Thử nghiệm xúc tác quang môi trường: Viện Khoa học Môi trường cần triển khai đánh giá hoạt tính quang xúc tác của bột gốm trong xử lý nước thải hữu cơ, hướng tới mục tiêu đạt hiệu suất phân hủy phẩm nhuộm Rhodamine B trên 92% dưới ánh sáng mặt trời trong 60 phút chiếu xạ, thực hiện trong 9 - 12 tháng.
  • Mô phỏng tính toán cấu trúc vi mô: Nhóm nghiên cứu vật lý lý thuyết cần sử dụng phần mềm mô phỏng phiếm hàm mật độ (DFT) để phân tích mật độ trạng thái điện tử DOS với sai số năng lượng dưới 0.05 eV nhằm xác định cấu hình pha tạp tối ưu trong vòng 6 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quang học, Vật lý chất rắn, Khoa học vật liệu: Tham khảo quy trình tổng hợp gốm multiferroics, phương pháp xử lý phổ Raman bằng hàm Lorentz và kỹ thuật tính toán năng lượng vùng cấm quang học từ phổ UV-Vis.
  • Kỹ sư nghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành vi điện tử: Khai thác dữ liệu biên pha cấu trúc và liên kết từ - điện để thiết kế các phần tử nhớ không tự xóa FeRAMs, MRAMs và cảm biến từ trường độ nhạy cao.
  • Nhà nghiên cứu công nghệ môi trường: Tận dụng đặc tính thu hẹp vùng cấm quang học xuống 1.85 eV để phát triển vật liệu xúc tác quang xử lý chất thải hữu cơ và pin quang điện thế hệ mới.
  • Giảng viên đại học khối ngành khoa học tự nhiên: Sử dụng dữ liệu thực nghiệm XRD, Raman, SEM và VSM làm bài giảng chuyên sâu trong các học phần Vật lý màng mỏng, Vật liệu từ và Quang phổ ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc thay thế đồng thời Samarium và Crom lại hình thành vùng biên pha cấu trúc? Ion Sm3+ thế chỗ cho Bi3+ làm biến dạng cấu trúc mặt thoi R3c sang trực giao Pnam. Khi bổ sung ion Cr3+ (bán kính 0.600 Å) thay thế cho Fe3+ (0.645 Å), thể tích ô mạng co rút từ 373.2 ų xuống 368.5 ų, kích hoạt quá trình chuyển pha và tạo ra vùng đồng tồn tại ba pha tinh thể với tỷ phần hai pha phụ đạt 37%.

Cơ chế nào khiến năng lượng vùng cấm quang của vật liệu giảm từ 2.70 eV xuống 1.85 eV? Sự xuất hiện của ion Cr3+ tạo ra các mức năng lượng tạp chất orbital 3d nằm giữa dải hóa trị O 2p và dải dẫn Fe 3d. Các mức trung gian này kích hoạt chuyển dời điện tử ở photon năng lượng thấp, làm bờ hấp thụ dịch chuyển về phía bước sóng dài từ 400 nm đến 750 nm.

Pha tạp chất Bi14CrO24 hình thành do đâu và tác động như thế nào đến mẫu gốm? Pha tứ giác Bi14CrO24 xuất hiện từ nồng độ x = 0.04 và đạt tỷ phần 12% ở x = 0.10 do phản ứng nhiệt độ cao 930 độ C trong không khí. Pha này tạo ra các vùng hạt mịn dưới 1 μm phân tán giữa các hạt lớn 15 - 20 μm, làm tăng độ tán xạ quang học của mẫu gốm.

Sự uốn cong góc liên kết Fe3+-O-Fe3+ tác động thế nào đến tính chất từ của vật liệu? Phổ Raman ghi nhận mode dao động A1-2 dịch chuyển 24 cm⁻¹, chứng minh góc liên kết Fe3+-O-Fe3+ bị uốn cong giảm khoảng 1.3 độ. Sự thay đổi này làm tăng cường tương tác bất đối xứng Dzyaloshinskii - Moriya, phá vỡ cấu trúc spin xoắn cycloid và làm bộc lộ từ độ dư tự phát trong vật liệu.

Quy trình chế tạo bằng phản ứng pha rắn trong luận văn có ưu điểm gì nổi bật? Quy trình thực hiện hai chu kỳ nghiền 2 giờ kết hợp nung sơ bộ 850 độ C trong 24 giờ và thiêu kết 930 độ C trong 12 giờ từ oxit tinh khiết trên 99%. Phương pháp này đảm bảo phản ứng khuếch tán nguyên tử diễn ra hoàn toàn, tạo ra mẫu gốm có độ kết tinh cao và đồng nhất về pha.

Kết luận

  • Tổng hợp thành công hệ gốm khối multiferroics Bi0.9Sm0.1Fe1-xCrxO3 (x = 0 đến 0.10) bằng phương pháp phản ứng pha rắn với độ kết tinh cao và ổn định cấu trúc.
  • Xác định rõ vùng biên pha cấu trúc với sự đồng tồn tại của ba pha tinh thể R3c, Pnam và I4/m, trong đó tổng tỷ phần hai pha phụ đạt 37% tại nồng độ x = 0.10.
  • Làm sáng tỏ cơ chế uốn cong góc liên kết Fe3+-O-Fe3+ giảm 1.3 độ qua độ dịch chuyển mode Raman A1-2, tạo nền tảng gia tăng từ tính cho vật liệu.
  • Thu hẹp thành công độ rộng vùng cấm quang học từ 2.70 eV xuống 1.85 eV, mở rộng dải hấp thụ trên toàn bộ vùng ánh sáng nhìn thấy từ 400 nm đến 750 nm.
  • Kiểm soát kích thước hạt gốm giảm từ 40 - 80 μm xuống 15 - 20 μm, nâng cao mật độ sắp xếp vi cấu trúc.

Công trình cung cấp cơ sở thực nghiệm vững chắc cho việc thiết kế vật liệu đa pha điện từ tại Việt Nam. Trong lộ trình 12 - 24 tháng tới, việc mở rộng sang nghiên cứu màng mỏng và thử nghiệm quang xúc tác thực tế sẽ thúc đẩy ứng dụng của vật liệu vào công nghệ lưu trữ dữ liệu và xử lý môi trường.