Luận Văn Thạc Sĩ Phân Tích Chế Độ Tổng Thống Mỹ

Luận văn thạc sĩ phân tích chế độ tổng thống mỹ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2008

136
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Chế độ tổng thống Mỹ Sự hình thành và phát triển

Chế độ tổng thống Mỹ là một mô hình nguyên thủ quốc gia độc đáo, được hình thành từ năm 1789 với sự nhậm chức của George Washington. Đây là kết quả của quá trình lịch sử phức tạp, phản ánh khát vọng tự do, dân chủ của người dân Mỹ. Chế độ tổng thống được xây dựng dựa trên nền tảng Hiến pháp Mỹ, với sự kết hợp giữa quyền lực tối cao và nguyên tắc dân chủ. Qua các giai đoạn phát triển, từ 1789-1877, 1877-1901, 1901-1945, và từ 1945 đến nay, chế độ tổng thống Mỹ đã trải qua nhiều thay đổi, từ việc thiết lập nền móng đến sự ổn định và hiện đại hóa. Các đặc tính nổi bật của chế độ tổng thống bao gồm tính quyền lực tối cao, tính dân chủ, tính xã hội rộng rãi, và tính liên tục, ổn định.

1.1. Sự hình thành chế độ tổng thống Mỹ

Chế độ tổng thống Mỹ được chính thức khai sinh vào ngày 30/4/1789, khi George Washington tuyên đọc diễn văn nhậm chức. Đây là kết quả của quá trình đấu tranh giành độc lập từ Đế quốc Anh và sự hình thành Hiến pháp Mỹ năm 1787. Chế độ tổng thống được thiết kế để đảm bảo sự cân bằng quyền lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, và tư pháp, đồng thời phản ánh tinh thần dân chủ và tự do của người dân Mỹ. Sự ra đời của chế độ tổng thống đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử chính trị thế giới, khi một mô hình nguyên thủ quốc gia hoàn toàn mới được áp dụng.

1.2. Các giai đoạn phát triển của chế độ tổng thống Mỹ

Chế độ tổng thống Mỹ đã trải qua bốn giai đoạn phát triển chính. Giai đoạn 1789-1877 là thời kỳ thiết lập nền móng và các tiền lệ. Giai đoạn 1877-1901 chứng kiến sự thay đổi nhiều mặt trong hệ thống chính trị Mỹ. Giai đoạn 1901-1945, chế độ tổng thống trở nên vững mạnh trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu. Từ năm 1945 đến nay, chế độ tổng thống đã ổn định, toàn diện hóa và hiện đại hóa, trở thành một mô hình nguyên thủ quốc gia có ảnh hưởng toàn cầu.

II. Địa vị và quyền hạn của Tổng thống Mỹ

Tổng thống Mỹ là người đứng đầu Nhà nước và ngành hành pháp, với quyền lực được quy định rõ ràng trong Hiến pháp. Quyền lực tổng thống bao gồm quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp, và quyền đối ngoại. Tổng thống Mỹ cũng là người lãnh đạo nền hành chính, đứng đầu đảng cầm quyền, và là nhân vật hàng đầu thế giới. Địa vị pháp lý và thực tế của Tổng thống Mỹ được xác định bởi Hiến pháp và thực tiễn chính trị, trong đó quyền hạn và trách nhiệm của tổng thống luôn được cân bằng với quyền lực của Quốc hội và Tòa án.

2.1. Địa vị pháp lý của Tổng thống Mỹ

Tổng thống Mỹ có địa vị pháp lý là người đứng đầu Nhà nước và ngành hành pháp. Theo Hiến pháp, Tổng thống Mỹ có quyền ký kết các hiệp ước quốc tế, bổ nhiệm các quan chức cao cấp, và thực thi pháp luật. Quyền lực tổng thống cũng bao gồm quyền phủ quyết các dự luật của Quốc hội, triệu tập các kỳ họp bất thường, và đề cử thẩm phán liên bang. Địa vị pháp lý của Tổng thống Mỹ được bảo đảm bởi Hiến pháp và các nguyên tắc dân chủ.

2.2. Quyền hạn của Tổng thống Mỹ

Quyền hạn của Tổng thống Mỹ bao gồm quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp, và quyền đối ngoại. Trong lĩnh vực hành pháp, Tổng thống Mỹ có quyền thực thi pháp luật, quản lý nền hành chính, và chỉ đạo các cơ quan chính phủ. Trong lĩnh vực lập pháp, Tổng thống Mỹ có quyền đề xuất các dự luật và phủ quyết các đạo luật của Quốc hội. Trong lĩnh vực tư pháp, Tổng thống Mỹ có quyền đề cử thẩm phán liên bang và ân xá cho phạm nhân. Quyền hạn của Tổng thống Mỹ được cân bằng bởi quyền lực của Quốc hội và Tòa án.

III. Phương thức thiết lập Tổng thống Mỹ

Phương thức thiết lập Tổng thống Mỹ bao gồm các bước ứng cử, đề cử, tranh cử, bầu chọn, nhậm chức, giữ chức, và thôi chức. Các cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức theo nguyên tắc dân chủ, với sự tham gia của các đảng phái chính trị và cử tri toàn quốc. Tổng thống Mỹ được bầu chọn thông qua hệ thống đại cử tri, với các tiêu chuẩn ứng viên được quy định rõ ràng. Quá trình thiết lập Tổng thống Mỹ phản ánh tính minh bạch và dân chủ của hệ thống chính trị Mỹ.

3.1. Tiêu chuẩn ứng viên tổng thống Mỹ

Tiêu chuẩn ứng viên tổng thống Mỹ bao gồm các yêu cầu về tuổi tác, quốc tịch, và thời gian cư trú tại Mỹ. Theo Hiến pháp, ứng viên Tổng thống Mỹ phải là công dân Mỹ từ khi sinh ra, ít nhất 35 tuổi, và đã cư trú tại Mỹ ít nhất 14 năm. Các cuộc bầu cử tổng thống cũng yêu cầu ứng viên phải được đề cử bởi một đảng chính trị hoặc tự ứng cử, và phải vượt qua các vòng tranh cử để giành được sự ủng hộ của cử tri.

3.2. Quá trình bầu chọn Tổng thống Mỹ

Quá trình bầu chọn Tổng thống Mỹ bao gồm các bước ứng cử, đề cử, tranh cử, và bầu chọn. Các cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức theo hệ thống đại cử tri, với mỗi bang có số lượng đại cử tri tương ứng với dân số. Tổng thống Mỹ được bầu chọn thông qua việc giành được đa số phiếu đại cử tri. Quá trình này phản ánh tính dân chủ và minh bạch của hệ thống chính trị Mỹ, đồng thời đảm bảo sự cân bằng quyền lực giữa các bang.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ chế độ tổng thống mỹ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG MỸ 1. SỰ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG MỸ Ngày 30/4/1789, trong rền vang tiếng đại bác và từng hồi chuông nhà thờ đổ dồn, đứng trên ban công toà nhà lớn ở góc phố Wall của Thủ đô lâm thời New York, trước sự hân hoan ngưỡng mộ của đông nghịt quần chúng, George Washington long trọng tuyên đọc diễn văn nhậm chức Tổng thống Hợp chúng quốc, chính thức khai sinh một mô hình nguyên thủ quốc gia hoàn toàn mới lạ trong lịch sử chính trị thế giới - chế độ tổng thống Mỹ. Bài diễn văn lời lẽ đơn sơ, buổi lễ cũng diễn ra ngắn ngủi, nhưng nó mang ý nghĩa tinh thần thật lớn lao và thiêng liêng. Nó là kết quả của cả một giai đoạn lịch sử phức tạp, gói ghém biết bao cố gắng, trí tuệ, tình cảm, mồ hôi, xương máu.

trong khát vọng tự do, dân chủ, công lý, tiến bộ của toàn thể nhân dân Mỹ. Sau một thế kỷ rưỡi ồ ạt thăm dò, định cư, khai phá, xung đột, chinh phục và dựng xây, dân di cư châu Âu đã trở thành người chủ vững chắc của dải đất rộng lớn trù phú phía đông sông Mississippi. Bằng cố gắng bành trướng, đến năm 1763, Nhà nước Anh đã thiết lập được quyền lực của mình trên toàn bộ miền đất gồm 13 bang này. Quan hệ giữa 13 thuộc địa Bắc Mỹ với Đế quốc Anh tuy là hậu quả của lịch sử, nhưng không phù hợp với thực tế bấy giờ.

Phơi phới sức trẻ và khao khát tự do, những người dân ngày càng cảm thấy ngột ngạt khi mà miền đất mới hùng mạnh, đầy tiềm năng của họ phải phụ thuộc vào một hòn đảo xa xôi, già cỗi và bảo thủ với chính thể quân chủ chuyên chế. Quan hệ đang dần trở nên gượng ép, hình thức và lỏng lẻo kia đột ngột suy thoái trầm trọng khi chính quyền Anh áp dụng hàng loạt biện pháp nhằm siết chặt sự cai quản. Việc hạn chế tự do chính trị và bòn rút kinh tế các thuộc địa Bắc Mỹ đã thổi bùng lên ngọn lửa chống Anh. Tháng 9/1774, dân cư 13 bang nhóm họp Đại hội Lục địa lần thứ nhất, kêu gọi Hoàng đế và 8 Nghị viện Anh thay đổi chính sách đối với Bắc Mỹ.

Không được đáp ứng, họ tổ chức tiếp Đại hội Lục địa lần thứ hai vào tháng 5/1775, thành lập quân đội để đấu tranh vũ trang. Ngày 4/7/1776, Đại hội Lục địa thông qua Tuyên ngôn Độc lập, cắt đứt mọi quan hệ phụ thuộc với Vương quốc Anh. Cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài từ năm 1776 cho đến năm 1783 và kết thúc bằng Hiệp ước Paris, trong đó Anh buộc phải công nhận nền độc lập của Hợp chúng quốc Mỹ gồm 13 bang thuộc địa trước đây. Sau khi tuyên bố độc lập, Đại hội Lục địa hoạt động như một cơ quan đại diện chung của các bang và gấp rút soạn thảo kế hoạch cho một liên bang.

Đến ngày 1/3/1781, tất cả các bang đã phê chuẩn, chấp thuận bản Điều lệ Hợp bang (The Articles of Confederation), theo đó các bang thống nhất lại với nhau dưới sự điều hành của Hội đồng Hợp bang. Gồm thành viên là đại biểu của tất cả các bang, hoạt động theo nguyên tắc tập thể (các quyết định phải được đa số bang đồng ý - đặc biệt phải được không dưới 9 trên 13 bang tán thành nếu là quyết định quan trọng), Hội đồng Hợp bang có chức năng lãnh đạo hoạt động đối ngoại và quốc phòng, giải quyết những tranh chấp lãnh thổ giữa các bang, quy định tiêu chuẩn đo lường, tiền đúc, bưu chính và quan hệ với người da đỏ, còn các bang vẫn duy trì sự độc lập và chủ quyền đối với tất cả các lĩnh vực khác. Hội đồng Hợp bang, như vậy, mang dáng dấp của một quốc hội với chức năng đại diện và lập pháp hạn chế. Tuy đã tập hợp được các bang trong một cộng đồng chính trị và đưa ra nhiều biện pháp nhằm củng cố, phát triển liên bang, nhưng do thiếu vắng cả hệ thống cơ quan hành pháp lẫn tư pháp, nó không thiết lập được quyền lực quốc gia đủ mạnh để buộc các bang thi hành luật chung, áp đặt mức thuế, điều chỉnh ngân sách, kiểm soát thương mại, xây dựng quân đội.

Hậu quả là đến đầu năm 1786, nước Mỹ suy sụp trầm trọng về mọi phương diện và liên bang bị đe dọa bởi nguy cơ tan rã. Những người có trách nhiệm liền quyết định phải triệu tập một hội nghị để kiếm tìm giải pháp cứu vãn, trong đó chắc chắn phải thiết lập một mô hình nhà nước liên bang hợp lý với nòng cốt là chế độ nguyên thủ quốc gia mạnh để khẳng 9 định và tập trung quyền lực, cùng một hệ thống cơ quan hành pháp mạnh để quản lý xã hội hữu hiệu. Hội nghị khai mạc cuối tháng 5/1787 tại Philadelphia với sự tham dự của 55 đại biểu các bang (trừ Rhole Island) - phần lớn đều là những người ưu tú, còn khá trẻ nhưng giàu tri thức và kinh nghiệm chính trị 1, đặc biệt đều có chung ý niệm về một liên bang thống nhất và hùng mạnh hơn. Họ tranh luận rất sôi nổi, thẳng thắn.

để cố gắng cùng nhau soạn thảo ra một hiến pháp (constitution) làm nền tảng pháp lý cơ bản cho hệ thống chính trị tương lai của Hợp chúng quốc. Chế độ tổng thống Mỹ được đặc biệt chú ý và việc nó được quy định trong Hiến pháp cũng như áp dụng trong thực tế sau này bắt nguồn từ mớ quan điểm đa dạng và sự thảo luận nghiêm túc mà sôi động (đôi khi đến gay gắt) của các đại biểu: Ngày 25/5/1787, Hội nghị chính thức bắt đầu. Đoàn đại diện Virginia - bang trội nhất và có truyền thống chính trị nhất - chủ động đề xuất một dự án (gọi là Kế hoạch Virginia)2 nhằm thay thế Hội đồng Hợp bang bởi nhà nước trung ương mới gồm một cơ quan lập pháp toàn quốc, một cơ quan hành pháp toàn quốc và một cơ quan tư pháp toàn quốc. Cơ quan hành pháp - mà gồm cả một vài thành viên của cơ quan tư pháp - sẽ do cơ quan lập pháp chỉ định, có quyền xem xét, chấp thuận hay bác bỏ những đạo luật do cơ quan lập pháp toàn quốc hoặc các cơ quan lập pháp bang thông qua.

Sau mấy ngày thảo luận về những vấn đề bức xúc nhất của liên bang, ngày 1/6, Hội nghị chuyển sang xem xét Mục 7 của Kế hoạch Virginia liên quan đến cơ quan hành pháp. Mục này đề nghị "cử một vị tổng thống" do cơ quan lập pháp toàn quốc bầu 1 Các đại biểu có độ tuổi trung bình khoảng 40 (những nhân vật sẽ góp phần quan trọng trong các cuộc tranh luận còn trẻ hơn nữa: Alexander Hamilton chỉ mới 30 tuổi và James Madison 36). Trong 55 người thì 39 đã từng tham dự các đại hội lục địa, 31 là luật gia và 22 có bằng cấp đại học. 2 Kế hoạch Virginia (Virginia plan) là các đề nghị bãi bỏ Điều lệ Hợp bang và thiết lập một chính quyền trung ương mạnh, được Edmun Randolph đệ trình lên Hội nghị Lập hiến năm 1787 (nó còn được gọi là Bản dự thảo Randolph, mặc dù phần lớn được James Madison viết) nhân danh toàn bộ đoàn đại biểu bang Virginia.

Phần nhiều trong bản dự thảo cuối cùng đã được đưa vào Hiến pháp Mỹ, chẳng hạn như, một nền lập pháp lưỡng viện, một nền hành pháp và tư pháp toàn quốc, đại diện lập pháp căn cứ vào số dân theo điều tra dân số. 10 ra, để hoạt động trong một thời gian (không thấy nói rõ); tổng thống được bầu lại nhiệm kỳ thứ hai và chỉ được hưởng mức lương cố định trong suốt thời gian đương chức; "ngoài quyền thi hành pháp luật, tổng thống còn được hưởng quyền chấp hành mà liên bang từng giao cho Hội đồng Hợp bang" [15, tr. Đại biểu Wilson liền đề xuất rằng cơ quan hành pháp chỉ gồm một nhân vật thôi và được đại biểu Pinckney ủng hộ. Sau một hồi tạm nghỉ, Chủ tịch Hội nghị Washington hỏi có nên nêu lại vấn đề không.

Đại biểu Franklin cho đó là một điểm rất quan trọng và ông hy vọng các vị đại biểu sẽ trình bày ý kiến về vấn đề này trước khi đem ra tranh luận. Phần đông đại biểu do dự vì họ không thể nào nghĩ tới một vị tổng thống duy nhất mà không liên tưởng đến một vị vua. Cuộc cách mạng giành độc lập chẳng những đã chống lại nước Anh mà còn phủ nhận Vương triều Anh. Hoàng đế Anh George III bấy giờ là biểu tượng chuyên chế khét tiếng mà nhân dân Mỹ căm ghét.

Không đại biểu nào tin rằng họ có thể quay lại chế độ quân chủ hoặc một bản hiến pháp ủng hộ chế độ đó lại được toàn dân Mỹ chấp thuận. Nhiều người thấy rõ nền quân chủ hại nhiều hơn lợi nhưng vẫn e ngại việc một vị tổng thống duy nhất dễ trở nên độc tài nếu ông ta đứng đầu một nền cộng hoà còn non trẻ, nhiều thành phần và nhiều biến động - những yếu tố thuận lợi thường dẫn đến kết cục là sự chuyên chế trung ương. Đại biểu Rutledge mở màn cuộc tranh luận bằng tuyên bố rằng các đại biểu được quyền tự do giãi bày quan điểm của họ mà không hề bị ràng buộc gì sau này. Riêng ông, ông tán thành có một vị tổng thống duy nhất, nhưng không muốn cho người đó quyền tuyên chiến và quyền ký kết điều ước quốc tế.

Đại biểu Sherman cho rằng "tổng thống" chẳng qua là một công chức thuộc cơ quan lập pháp toàn quốc và cơ quan này - có nhiệm vụ chỉ định tổng thống - được quyền tự do chỉ định một hoặc nhiều vị tuỳ theo trường hợp. Wilson tán thành "một vị tổng thống duy nhất" vì chỉ có vậy tổng thống mới gánh vác được trọng trách một cách xứng đáng, linh động và đầy nghị lực; còn vài quyền do Hoàng đế Anh nắm giữ trước kia - như quyền tuyên chiến 11 và ký kết điều ước - đều thuộc quyền lập pháp, không nên ban cho tổng thống Mỹ theo Kế hoạch Virginia. Đại biểu Gerry thì ủng hộ chủ trương lập thêm một hội đồng bên cạnh tổng thống để tạo ra sự khách quan và tín nhiệm. Đại biểu Randolph kịch liệt phản đối sự thống nhất trong cơ quan hành pháp, cho đấy là mầm mống của chế độ quân chủ và theo ông, bộ máy hành pháp liên bang phải gồm nhiều nhân vật - rất có thể là 3 người.

Hội nghị vẫn chưa quyết định gì về sự lựa chọn phương án một hay nhiều vị tổng thống, mà chỉ nhất trí nên thành lập một cơ quan hành pháp toàn quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Luận Văn Thạc Sĩ Về Chế Độ Tổng Thống Mỹ: Phân Tích Toàn Diện" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về hệ thống chính trị của Hoa Kỳ, đặc biệt là chế độ tổng thống. Tác giả phân tích các khía cạnh quan trọng như quyền lực, trách nhiệm và vai trò của tổng thống trong việc điều hành đất nước. Bên cạnh đó, luận văn cũng đề cập đến những thách thức mà tổng thống phải đối mặt trong bối cảnh chính trị hiện đại, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phức tạp của chính trị Mỹ.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Chế độ tổng thống hợp chủng quốc hoa kỳ sự hình thành và phát triển, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về sự hình thành và phát triển của chế độ tổng thống tại Hoa Kỳ. Những thông tin này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về cách thức hoạt động của hệ thống chính trị này.