Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm thai sản; Chương 2: Bảo đảm quyền lợi của người hưởng bảo hiểm thai sản theo Luật BHXH năm 2014; Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam nhằm bảo đảm quyền lợi của người hưởng bảo hiểm. 5 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN 1. Khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản 1. Bảo hiểm xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở…Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết.
Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ. Nhưng trong quá trình lao động không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi mà nhiều khi gặp khó khăn, bất lợi làm cho bị giảm sút hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bị ốm đau, tai nạn hay già, yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi.
Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần được khám chữa bệnh và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng. Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước. Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn công nhân trở nên phổ biến thì mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ làm thuê và giới chủ cũng trở nên phức tạp.
Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã 6 z phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những yêu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản. Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết.
Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn nhằm xác định mối quan hệ giữa các chủ thể: giới chủ, giới thợ, Nhà nước trong việc bảo đảm cho NLĐ khi họ gặp rủi ro. Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy xa đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi toàn quốc gia - được gọi là quỹ BHXH.
Quỹ này còn được bổ sung từ Ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của NLĐ được dàn trải, cuộc sống của NLĐ và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng, khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết phải tiến hành bảo hiểm cho NLĐ. Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của NLĐ và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu 7 z khách quan. BHXH đã được pháp luật nhiều quốc gia ghi nhận, đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 như sau: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH. Quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và tự do phát triển của con người”.
Tuy nhiên, khái niệm BHXH trước khi Luật BHXH ra đời được tiếp cận dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, bảo hiểm xã hội là sự: “Bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động. Giáo trình luật lao động của Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội định nghĩa: “Dưới góc độ pháp lý, bảo hiểm xã hội là tổng hợp các quy định của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ổn định đời sống cho NLĐ khi gặp những rủi ro, hiểm nghèo trong quá trình lao động hoặc khi già yếu không còn khả năng lao động” [77. Có tác giả lại cho rằng: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc làm mất khả năng lao động hoặc mất việc làm bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của NSDLĐ và NLĐ, nhằm bảo đảm an toàn cho đời sống của NLĐ và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội”.
BHXH kể từ khi xuất hiện đến nay luôn luôn phát huy tác dụng trong những lúc NLĐ gặp khó khăn hiểm nghèo do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già.trên cơ sở những cam kết đóng góp của NLĐ và NSDLĐ cho một bên thứ ba là cơ quan bảo hiểm trước khi xảy ra những biến có đó. Vì vậy, dưới góc độ kinh tế: BHXH là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự bảo đảm thu nhập nhằm bảo đảm cuộc sống cho NLĐ khi bị giảm hoặc mất 8 z khả năng lao động. Dưới góc độ pháp lý, chế độ BHXH là tổng hợp những quy định của Nhà nước, quy định những hình thức đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thần cho NLĐ và trong một số trường hợp là thành viên gia đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Hiện nay, Khoản 2 Điều 3 Luật BHXH 2014 định nghĩa về BHXH như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Ở nước ta hiện nay thực hiện một số chế độ BHXH sau: - Chế độ bảo hiểm ốm đau; - Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; - Chế độ bảo hiểm thai sản; - Chế độ bảo hiểm hưu trí; - Chế độ bảo hiểm thất nghiệp; - Chế độ tử tuất; Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, luận văn chỉ nghiên cứu chế độ bảo hiểm thai sản trong hệ thống các chế độ của BHXH. Chế độ bảo hiểm thai sản 1. Cơ sở và quá trình hình thành chế độ bảo hiểm thai sản BHXH và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy để thực hiện mục tiêu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đảm bảo quyền con người, tất cả vì con người, do con người cho nên vấn đề bảo đảm chính sách an sinh xã 9 z hội nhất là chế độ bảo hiểm thai sản là một trong những mục tiêu lớn của các quốc gia trên thế giới.
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường sự thuê mướn nhân công phát triển, sức lao động được coi là hàng hóa, quan hệ lao động trở nên bất ổn cho NLĐ làm công ăn lương như ốm đau, tai nạn lao động, thai sản nên rất cần có sự chia sẻ rủi ro và chính sách trợ giúp của nhà nước và NSDLĐ. Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đã khiến NLĐ gặp bất lợi, bị mất hoặc gián đoạn thu nhập nên rất cần các chính sách an sinh xã hội để bảo bảo cuộc sống cho NLĐ. Chế độ bảo hiểm thai sản chi trả cho các trường hợp NLĐ sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, khám thai, nạo, hút thai. Đối tượng chủ yếu của chế độ bảo hiểm thai sản là lao động nữ, với những đặc thù về giới như thể lực, tâm sinh lý, cùng với chức năng làm mẹ và trách nhiệm chăm sóc gia đình đã gặp rất nhiều khó khăn.
Vì thế, cần phải có chế độ bảo hiểm thai sản khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ khi tham gia vào quan hệ lao động. Trong hệ thống các chế độ trợ cấp xã hội, bảo hiểm thai sản là chế độ xuất hiện từ rất sớm. BHXH đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỉ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển. Tuy nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp.
Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ để giúp đỡ lẫn nhau.