Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã. Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã – từ thực tiễn huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã – từ thực tiễn huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. 8 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Cán bộ, công chức cấp xã 1. Khái niệm Khái niệm cán bộ hiện nay được hiểu chủ yếu ở hai phương diện đó là phương diện ngôn ngữ và phương diện pháp lý. Theo từ điển Tiếng việt thì khái niệm cán bộ được hiểu: “ Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, đảng và đoàn thể” [26] Ở phương diện pháp lý quy định điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008: “ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [19] Khái niệm công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước.
Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng. 9 e Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. [19] Như vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc Việt Nam; các tổ chức Chính trị xã hội; những người lãnh đạo, quản lý đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam. Và hiện nay, theo khoản 1 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.[20] 10 e Tuy nhiên, Luật Cán bộ công chức và Luật viên chức sửa đổi 2019 có hiệu lực từ 01/07/2020, vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm công chức vẫn được hiểu theo Luật cán bộ, công chức 2008.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm cán bộ, công chức cấp xã theo khoản 3, điều 4 Luật cán bộ công chức 2008: - Cán bộ cấp xã: Là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị, xã hội; - Công chức cấp xã: Là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Theo đó, Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP quy định cụ thể chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã gồm: - Chức vụ cán bộ cấp xã: + Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; + Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; + Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; + Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; + Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); + Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam - Chức vụ công chức cấp xã: + Trưởng Công an; + Chỉ huy trưởng Quân sự. 11 e + Văn phòng – thống kê. + Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã). + Tài chính – kế toán.
+ Tư pháp – hộ tịch. Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 34/2019/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung Điều 4 Nghị định 92, cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Cụ thể: - Với xã loại 1: Tối đa 23 người; - Với xã loại 2: Tối đa 21 người; - Với xã loại 3: Tối đa 19 người. Trong đó, số lượng cán bộ, công chức cấp xã sẽ do UBND cấp tỉnh quyết định bằng hoặc thấp hơn số lượng nêu trên, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
[8] Đặc biệt, nếu xã nào có công an chính quy là Trưởng Công an xã thì số lượng cán bộ, công chức nêu trên sẽ giảm 01 người. Đồng thời, tại Điều 9 Thông tư 13/2019/TT-BNV, mỗi chức danh công chức cấp xã được bố trí từ 01 người trở lên. Với yêu cầu, nhiệm vụ của từng xã, UBND tỉnh có thể bố trí tăng thêm người ở một số chức danh công chức trừ Trưởng Công an xã và Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã. Đặc điểm cán bộ, công chức cấp xã Cán bộ, công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức trong nền công vụ Việt Nam.
Tuy nhiên, do vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã nên cán bộ, công chức cấp xã có những đặc điểm mang tính đặc thù như sau: Một là, đặc điểm về nguồn tuyển dụng Cán bộ, công chức cấp xã hầu hết đều là người địa phương, sinh sống tại địa phương, có quan hệ dòng tộc và gắn bó với dân làng. Nếu như cán bộ, công chức cấp huyện, cấp tỉnh nguồn tuyển dụng đa dạng có thể thu hút được những người ở địa phương khác đến làm việc, thì đối với cán bộ, công chức cấp xã nguồn tuyển dụng chủ yếu là người của địa phương. Đặc điểm này dẫn đến thuận lợi là cán bộ, công chức cấp xã do là người địa phương nên gắn bó lâu dài với công việc và am hiểu tình hình địa phương, sát dân và thuận lợi cho thực thi công vụ; nhưng cũng dẫn đến hạn chế là nguồn tuyển dụng không phong phú nên ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ. Mặt khác, do chủ yếu là người địa phương có quan hệ mật thiết với người dân địa phương nên tiềm ẩn nguy cơ nể nang, không đảm bảo khách quan khi giải quyết công việc.
Hai là, đặc điểm về hoạt động - Cán bộ, công chức cấp xã gần dân nhất, trực tiếp tham gia tổ chức các hoạt động quản lý, điều hành các công việc và trực tiếp tổ chức thi hành pháp luật ở xã, phường, thị trấn. Trong hoạt động của mình, cán bộ, công chức cấp xã có điều kiện tiếp xúc, nắm bắt tốt nhất tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó có thể đề xuất những biện pháp đảm bảo lợi ích của nhân dân địa phương. Mặt khác, do gắn với hoạt động của nhân dân, cán bộ, công chức cấp xã cũng có khả năng phát hiện và ngăn chặn sớm nhất các hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, cán bộ công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc chăm lo lợi ích của nhân dân, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh 13 e tế - xã hội ở địa phương.
Nếu cán bộ công chức cấp xã có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ sẽ đảm bảo cho cấp xã hoạt động có hiệu quả - Cán bộ, công chức cấp xã chủ yếu trực tiếp sống tại địa phương, thường không thoát ly hẳn sản xuất mà hàng ngày vẫn tham gia sản xuất, kinh doanh, có sở hữu tư liệu sản xuất (ruộng, trang trại, cửa hàng, dịch vụ…), trong nhiều trường hợp nguồn thu chính của họ không phải từ lương, phụ cấp từ ngân sách mà từ kết quả sản xuất, kinh doanh. - Bản thân cán bộ công chức cấp xã do sự khác nhau về quản lý của chính quyền xã, thị trấn (nông thôn) với chính quyền phường (đô thị), còn có sự khác nhau về hoạt động giữa cán bộ, công chức chính quyền xã, thị trấn với công chức chính quyền phường. Chính quyền và cán bộ công chức xã, thị trấn đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực; quyết định việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân xã, thị trấn.