Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Khung lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2.1 Lý thuyết nền Lý thuyết đại diện Jensen & Meckling (1976) là hai tác giả nghiên cứu lý thuyết đại diện sớm nhất. Hai ông cho rằng sự khác biệt về lợi ích của các cổ đông và sự thiếu giám sát của các nhà quản lý có thể dẫn đến thực hiện các dự án đầu tư mà không mang lại giá trị cho công ty nói chung và lợi ích cho toàn bộ cổ đông nói riêng. Myer (1977) kết luận chính những mâu thuẫn giữa nhóm các cổ đông - nhà quản lý và các trái chủ trong một công ty có sử dụng nợ vay có thể làm giảm động cơ đầu tư vào những cơ hội kinh doanh có NPV dương vì lo sợ những lợi ích từ các dự án sẽ thuộc về trái chủ. Chính điều này đã dẫn đến vấn đề “đầu tư dưới mức”.
Những mâu thuẫn giữa nhóm các cổ đông – nhà quản lý và các trái chủ trong một công ty có sử dụng nợ vay có thể làm giảm động cơ đầu tư và những dự án kinh doanh có NPV dương vì lo sợ những lợi ích có được từ dự án sẽ thuộc về trái chủ. Jensen (1986) thì cho rằng các giám đốc vì lợi ích bản thân thường có xu hướng mở rộng quy mô của công ty thậm chí là thực hiện cả những dự án gây hại đến lợi ích của cổ đông, dẫn đến “đầu tư quá mức”. Điều này xảy ra là do có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và quản lý, nên về mặt lý thuyết và thực tế đã xuất hiện vấn đề khi một người hoạt động vì lợi ích của người khác, thì về bản chất người đại diện công ty luôn có xu hướng tư lợi cho họ hơn là hành động vì người chủ sở hữu và các cổ đông. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành đã tạo ra thông tin bất cân xứng, người điều hành có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi.
Hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn, phức tạp nên đối với người đại diện hành động theo nhiệm vụ được giao là vì lợi ích của những người khác thì họ sẽ cần đến động lực phù hợp như được hưởng một số lợi ích như vật chất, tinh thần hoặc bị bắt buộc thực hiện trách nhiệm, nhiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 vụ được uỷ thác. Thông thường với nhiều quyền tự chủ, nhiều động lực từ vật chất và tinh thần thì người đại diện hay được ủy quyền sẽ làm việc hiệu quả và đầy đủ hơn nhiệm vụ mà người chủ sở hữu giao cho, còn việc trừng phạt có tính cưỡng bức thì hiệu quả sẽ thấp hơn. Do vậy doanh nghiệp cần phải xây dựng theo cách mà người đại diện hăng say, cần cù làm việc theo hướng lợi ích của chủ sở hữu của họ và lợi ích của họ là gắn liền với nhau trong dài hạn. Trong công ty cổ phần, những cổ đông lớn kiểm soát công ty trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành.
Cổ đông lớn sở hữu một lượng đáng kể cổ phần vì vậy họ có quyển biểu quyết tương ứng nên đóng vai trò chi phối trong kiểm soát công ty. Cổ đông kiểm soát lúc này vừa là chủ sở hữu đồng thời là người quản lý. Họ sẽ lợi dụng quyền lực của mình để thực hiện các giao dịch mang lại lợi ích cho mình mà bỏ qua quyền lợi các cổ đông thiểu số. Thực trạng này thường gặp phải trong cấu trúc sở hữu tập trung.
Cấu trúc sở hữu phân thành 2 loại là sở hữu phân tán và tập trung. Với hình thức sở hữu tập trung thì cả quyền sở hữu lẫn quyền kiểm soát công ty tập trung vào tay một số cá nhân, gia đình, ban quản lý hoặc các định chế. Những cá nhân và nhóm người này thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức công ty vận hành. Những cổ đông lớn kiểm soát công ty trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành.
Cổ đông lớn sở hữu một lượng đáng kể cổ phần vì vậy họ có quyển biểu quyết tương ứng nên đóng vai trò chi phối trong kiểm soát công ty. Ảnh hưởng của cổ đông lớn là tương tự khi công ty quyết định thoái vốn. Hình thức sở hữu phân tán thì có nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một phần nhỏ cổ phần, quyền kiểm soát công ty do ban giám đốc nắm giữ. Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra, giám sát các hoạt động của công ty và không tham gia vào ban điều hành công ty.
Một vấn đề mà ta bắt gặp ở đây là hiện tượng “Người ăn theo” khi công ty sở hữu một cấu trúc sở hữu phân tán. Sẽ chẳng có cổ đông nhỏ nào tình nguyện đứng ra quản lý để các cổ đông còn lại hưởng lợi trên thành quả của mình. Một cấu trúc sở hữu tập trung sẽ tránh được vấn đề này và cho phép giám sát tốt hơn. Tuy nhiên sự xuất hiện nhiều cổ đông sẽ giúp công ty giảm thiểu chênh lệch mục tiêu, thực hiện các quyết định mang lại giá trị cho công ty.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Mỗi hệ thống cấu trúc sở hữu có những điểm thuận lợi, bất lợi và luôn tiềm ẩn những thách thức về quản trị doanh nghiệp. Với cấu trúc sở hữu tập trung thì những người bên trong có động cơ để kiểm soát. Nhờ đó giảm thiểu được vấn đề sai phạm hay gian dối trong quản trị và điều hành. Tuy nhiên hệ thống này cũng dẫn đến một số tiêu cực, các cổ đông lớn nắm quyền kiểm soát có thể dùng quyền lực của mình tác động đến các quyết định của hội đồng quản trị nhằm đem lại lợi ích cho mình.
Các nghiên cứu cho thấy quyền lực tập trung vào tay một số cổ đông kiểm soát. Sự ảnh hưởng này là đáng kể bởi vì khả năng tác động đến quyết định quản trị của công ty bởi những cổ đông chi phối. Tuy nhiên cũng có quan điểm khác cho rằng cổ đông lớn thúc đẩy quản trị tốt hơn. Bởi vì quyền sở hữu đáng kể của họ, những cổ đông này sẽ có động lực để kiểm soát quản lý vì họ có thể thu hồi chi phí kiểm soát, không giống như các cổ đông phân tán nhỏ.
Sự giám sát lớn hơn này đảm bảo rằng các quyết định quản lý tốt được thực hiện. Những cổ đông lớn có thể ngăn chặn quản lý khỏi việc đầu tư quá mức và thể hiện sự không hài lòng nếu tài sản của công ty không được sử dụng hiệu quả. Lập luận này cho thấy sự hiện diện của các cổ đông lớn liên quan tới hoạt động thoái vốn nhiều hơn. Tuy nhiên tồn tại một quan điểm khác là các cổ đông lớn có khả năng sử dụng quyền lực của họ để khai thác lợi ích cá nhân từ việc kiểm soát chi phí của các cổ đông thiểu số.
Bởi vì họ kiểm soát công ty bằng cách nắm giữ một phần cổ phiếu, cổ đông lớn chỉ nội hóa một phần các hậu quả của quyết định công ty. Sau đó họ có động lực để chuyển hướng các nguồn lực của công ty để tận hưởng đầy đủ lợi ích của họ trong khi chi trả một phần nhỏ chi phí. Ngoài ra các cổ đông lớn còn lấn át cổ đông thiểu số thông qua các giao dịch với các bên liên quan. Ví dụ, họ có thể chỉ đạo công ty bán tài sản hoặc cung cấp dịch vụ với giá không lãi cho một công ty mà ở đó họ nắm giữ một tỷ lệ cao các cổ phần.
Tương tự, họ có thể thúc đẩy công ty mua tài sản, mua dịch vụ với mức giá cao hoặc giả định tất cả các chi phí thiết lập các dự án chung sẽ cung cấp lợi ích cho các tổ chức doanh nghiệp khác mà họ sở hữu riêng. Một số các nghiên cứu tiếp cận vấn đề xung đột đại diện phát sinh từ sự hiện diện của các cổ đông lớn.Tất cả những điều được nhắc đến, sự hiện diện của các cổ đông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 lớn có vẻ là gây hại cho cổ đông thiểu số hơn là mang lại lợi ích cho họ. Việc khai thác lợi ích cá nhân vượt quá việc giám sát các quyết định quản lý. Các cổ đông lớn có thể khai thác giá trị cho mình mà không cần tối đa hóa giá trị của công ty, là hợp lý để cho rằng họ có ít động cơ để thúc đẩy thoái vốn.
Một lập luận khác đối với thoái vốn là một thực tế rằng họ có tiềm năng tiếp cận với các giao dịch không phù hợp liên quan đến các cổ đông kiểm soát thông qua quá trình thẩm định của người mua. Ngoài ra, người bán có thể không đảm bảo một mức giá tốt mà không tiết lộ sự sai lầm trong quản lý riêng của mình. Trong các công ty niêm yết, cổ đông nhỏ thường thiếu tiếng nói cũng như quyền lực để kiểm tra giám sát hoạt động hàng ngày. Điều đó đồng nghĩa với việc họ phải trông cậy vào tinh thần trách nhiệm và sự minh bạch của những người trực tiếp điều hành.
Chính vì thế sự minh bạch trong hoạt động quản lý rất quan trọng, nhằm giúp cổ đông có thể nhận diện được mức độ sở hữu và kiểm soát thực sự trong công ty. Tuy nhiên thông tin là bất hoàn hảo. Trong các quyết định ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp như quyết định thoái vốn thì sự công khai minh bạch càng được chú trọng. Nhìn chung, chi phí đại diện khiến cho nhà quản lý đầu tư vào các dự án không vì mục đích tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu mà chỉ nhằm mục đích nâng cao giá trị cho chính bản thân.
Chính vì những vấn đề trên đây mà các công ty có thể bỏ qua các quyết định thoái vốn.2 Nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây Hearth & Zaima (1984) thực hiện nghiên cứu cho giai đoạn từ 1979 đến 1981 và cố gắng xác định liệu một quyết định thoái vốn tự nguyện có mang lại giá trị kinh tế bằng cách kiểm tra phản ứng của thị trường trước và sau thông báo thoái vốn. Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có thể sử dụng hoạt động thoái vốn để khắc phục sai lầm đầu tư trong quá khứ, chẳng hạn như giao dịch mua lại không thành công, và sử dụng các nguồn lực một cách tốt nhất.